Nguồn: Sinh viên Việt Nam
| TS Lê Văn Hảo |
(SVVN)Trên truyền hình, Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình xác nhận: Hiện đang có những tin đồn
thất thiệt gây ảnh hưởng xấu tới hệ thống ngân hàng. Vậy tin đồn xuất
hiện như thế nào và liệu có thể hạn chế tác động tiêu cực của nó tới đời
sống xã hội? Sinh Viên Việt Nam đã trao đổi cùng TS Lê Văn Hảo, Viện
Tâm lý học (Viện Khoa học xã hội Việt Nam).
Cơ chế của tin đồn
Dưới góc độ tâm lý học xã hội và truyền thông, theo ông, khi nào thì một tin đồn xuất hiện?
Trong tâm lý học xã hội, tin đồn được xem là những
"lý giải” chưa được kiểm chứng về một sự kiện, tình huống hay vấn đề mà
công chúng quan tâm và nó được truyền từ người này sang người khác. Nói
cách khác, tin đồn là một nỗ lực hay hành vi mang tính chất tập thể,
nhằm lý giải một tình huống có vấn đề hoặc một tình huống kích thích cảm
xúc của công chúng. Xét cho cùng, tin đồn cũng là một dạng giao
tiếp/truyền thông xã hội loại đặc biệt, không chính thức. Khi một tình
huống có vấn đề, thu hút sự quan tâm của công chúng nhưng lại thiếu vắng
thông tin lý giải đã được kiểm chứng, chính thức và thuyết phục thì
cách lý giải chưa được kiểm chứng, không chính thức và có phần “bán tín,
bán nghi” sẽ là cơ sở để xuất hiện tin đồn.
Từ giữa thế kỷ trước, Knapp trong cuốn A Psychology
of Rumor (1944) đã xác định rất rõ ba đặc điểm cơ bản của tin đồn: Được
truyền miệng; cung cấp các "thông tin" về một người, tình huống hay câu
chuyện đang diễn ra; thể hiện và đáp ứng các "nhu cầu về cảm xúc của
công chúng/cộng đồng. Knapp cũng phát hiện ra rằng, các tin đồn tiêu cực
thường dễ được lan truyền hơn các tin đồn tích cực. Liệu có phải vì vậy
mà phần lớn các tin đồn đều mang tính chất "phá" nhiều hơn là "xây"?
Các yếu tố tâm lý cơ bản làm tin đồn lây lan là gì, thưa ông?
Tin đồn có thể xuất hiện trong mọi tổ chức hay xã
hội, ở các mức độ khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu, sau này, đã xác định
hai yếu tố mang tính chất tâm lý và tình huống quan trọng dẫn đến tin
đồn và lan truyền tin đồn: Sự bất định và lo lắng. Bất định là trạng
thái không xác định, nghi ngờ, không biết chuyện gì sẽ diễn ra tiếp theo
và sự kiện vừa diễn ra có nghĩa là như thế nào. Khi thiếu thông tin để
lý giải một cách có ý nghĩa tình huống có vấn đề, con người cảm thấy băn
khoăn, lo lắng. Chờ đợi tin tức về việc một số lãnh đạo ngân hàng mà
mình gửi tiền bị bắt giam hay theo quy hoạch mới nhà mình có bị giải tỏa
hay không... là một quá trình rất nản lòng. Về khía cạnh cảm xúc, sợ
hãi hay lo lắng khi thiếu các thông tin thiết thực là trạng thái có thể
dẫn đến sự hình thành các tin đồn. Con người cần hiểu rõ chuyện gì đã,
đang và sẽ diễn ra để có thể hành động, xử lý một cách hiệu quả.
| Ngay cả khi tin đồn là sai hoàn toàn thì nó vẫn chứa đựng một dạng "sự thật". Nó cho ta biết một thông tin quan trọng là người dân đang nghĩ gì và tâm trạng, thái độ của họ ra sao. |
Đâu là "đất sống” của tin đồn, thưa ông?
Trong điều kiện khủng hoảng, tin đồn càng có đất sống bởi khi
đó công chúng thường cảm thấy bất định và lo âu nhất. Trong công trình
The Psychology of Rumor (1947) đã trở thành kinh điển của mình, Allport
và Postman đã xác định hai điều kiện tác động tới tin đồn (tạm gọi là
T): Tầm quan trọng (tạm gọi là Q) của tin đồn đối với công chúng và sự
mơ hồ (M) của các dữ kiện/bằng chứng liên quan tới tin đồn. Hai biến số
này liên hệ với nhau theo công thức: T = Q x M. Có nghĩa, số lượng và
cường độ của tin đồn (T) càng tăng, nếu tầm quan trọng của nội dung tin
đồn càng cao đối với công chúng và sự mơ hồ của các bằng chứng (như
thông tin đa nghĩa, tối nghĩa, nhập nhằng) càng cao và ngược lại. Khi lo
sợ về những hệ quả của một tình huống, sự kiện nào đó như tăng giá hàng
hóa, thực phẩm độc hại, động đất... (ngược lại với mong muốn của công
chúng), các tin đồn sẽ xuất hiện nhiều với cường độ lớn khi thông tin về
các tình huống đó thiếu hụt hoặc mơ hồ.
Ứng xử ra sao với tin đồn?
Thưa ông, công chúng thường phản xạ thế nào với các tin đồn?
Trước
một tin đồn, các cá nhân trong công chúng thường thể hiện một trong ba
loại định hướng: Phê phán, không phê phán hoặc truyền tiếp. Với loại phê
phán, cá nhân sử dụng năng lực phê phán để phân định sự thật và giả dối
trong tin đồn mà anh ta nghe được. Việc này dễ xảy ra, nếu anh ta có
kiến thức hay kinh nghiệm về chủ đề đó. Nhưng quan trọng hơn là anh ta
phát triển được tư duy phê phán, phản biện. Còn với loại không phê phán
thì cá nhân không thể sử dụng năng lực phê phán để đánh giá mức độ thật
giả trong các tin đồn. Có thể, một số tình huống hay cảm xúc đã hạn chế
việc sử dụng năng lực phê phán, như trong các tình huống khẩn cấp (thiên
tai hay nhân tai). Trong nhiều tình huống khác, các cá nhân không có đủ
kiến thức về vấn đề mà tin đồn đề cập và không có năng lực phê phán sẽ
suy diễn hay thêu dệt ý nghĩa của tin đồn, sao cho nó phù hợp với định
khuôn, định kiến hay thái độ của mình. Với loại thứ ba (thường thể hiện
trong các thực nghiệm tâm lý học xã hội), nội dung của tin đồn không
liên quan đến cá nhân, nên anh ta chỉ quan tâm đến việc truyền tiếp nó
cho người khác. Đôi khi, nó giống như một đứa trẻ được người khác cho
biết một “tin vịt”, nó chẳng hiểu gì lắm nhưng lại phấn khích truyền tin
này cho nhiều người khác vì nhiều động cơ khác nhau (thích thể hiện,
kiếm chuyện làm quà…).
Xin hãy nêu một câu chuyện về tin đồn mà ông thấy có nhiều bài học đáng để ta suy ngẫm?
Khi
dịch cúm gia cầm H5N1 bùng phát ở Việt Nam vào đầu năm 2004, Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) đã đưa ra một báo động về sức khỏe cho công chúng ở
cấp độ quốc tế. Sau đó, Văn phòng Khu vực Tây Thái Bình Dương của tổ
chức này (WPRO) đã chỉ định một viên chức giám sát tin đồn (rumor
survaillance officer) để tìm kiếm và theo dõi dấu vết về tin đồn cúm gia
cầm. Trong vòng 5 tuần, người ta phát hiện 40 tin đồn khác nhau về bùng
phát cúm gia cầm ở các nước trong khu vực. 9 trong số này (chiếm 24%)
là các tin đồn, sau đó, đã trở thành sự thật.
Bài
học ở đây là trước các tin đồn (vốn thường phản ánh mối quan tâm hay lo
ngại của công chúng), thay vào việc phớt lờ hay phủ nhận ngay lập tức
như cách của nhiều tổ chức hay quốc gia có thể làm, WHO đã chủ động giám
sát và những kết quả/phát hiện của họ đã dập tắt các tin đồn sai lệch
và giảm thiểu các tác động tiêu cực về kinh tế và tâm lý. Điều quan
trọng hơn là WHO đã xác minh và khẳng định, gần ¼ tin đồn là xác thực,
huy động những nguồn lực để ứng phó ở những nơi bị ảnh hưởng.
Tất
nhiên, trong các tin đồn nói chung có nhiều tin đồn không xác thực, một
số tin đồn xác thực, một số khác chứa dựng cả 2 yếu tố: Nhiều thông tin
chi tiết trong tin đồn là sai lệch nhưng vấn đề mà nó đề cập lại là có
thật. Điều quan trọng là tin đồn báo hiệu cho chúng ta, đặc biệt là
những người quản lý tổ chức hay xã hội, biết rằng có một chuyện gì đó
đang diễn ra và đòi hỏi cần phải xử lý. Ngay cả khi tin đồn là sai hoàn
toàn thì nó vẫn chứa đựng một dạng "sự thật". Nó cho ta biết một thông
tin quan trọng là người dân đang nghĩ gì và tâm trạng, thái độ của họ ra
sao (những yếu tố tác động rất lớn đến hành vi con người).
Tăng "sức đề kháng" bằng tư duy độc lập
Trước một tin đồn, thường thì người tiếp nhận rất hoang mang. Vậy, làm thế nào để có cách ứng xử đúng đắn?
Từ
công thức T = Q x M và những gì đã được đề cập trên đây, có thể thấy,
các cách thức xử lý với tin đồn từ góc độ của người quản lý tổ chức hay
xã hội và từ góc độ của công chúng. Cách giảm T tốt nhất là giảm M.
“Chìa khóa” đối với chiến lược hay cách thức xử lý tin đồn là năng lực
thực hiện ba yếu tố: Cơ chế hay cách thức xác định các tin đồn; cách
thức xác định tin đồn nào là xác thực và tin đồn nào là sai lệch/giả
dối; cơ chế hay cách thức hiệu chỉnh các tin đồn không chính xác và thay
thế chúng bằng các thông tin tin cậy.
Như vậy, cách tốt nhất để phòng ngừa và ngăn chặn việc lan truyền tin đồn lại chính là lan truyền thông tin xác thực?
Thông
tin tốt chính là “thuốc giải độc” cho những tin đồn nhảm. Ngay cả khi
người quản lý không có thông tin tin cậy thì anh ta vẫn có thể thông báo
ít nhất hai điều: Tin đồn đang lan truyền nói rằng, XYZ và thông
tin/bằng chứng tốt nhất mà chúng tôi hiện có về XYZ là... Còn một điều
nữa cũng rất có hiệu quả: Khi biết rằng tin đồn là đúng thì hãy nói như
vậy, cũng tương tự khi tin đồn là sai hoặc vừa đúng vừa sai. Chính cách
làm này sẽ giúp công chúng giảm lo lắng hay hoảng sợ và vì thế giảm “nhu
cầu cảm xúc” về tin đồn hay giảm tính chất lây lan của tin đồn trong
công chúng. Dù tin đồn có thế nào, nhưng nếu người quản lý chia sẻ thông
tin một cách trung thực và minh bạch thì phần lớn công chúng đều cảm
thấy "nhu cầu" phải nói về tin đồn một cách vô trách nhiệm sẽ giảm.
Trong tình huống hoang mang “bán tín bán nghi”, việc cung cấp thông tin
trung thực cho công chúng chính là cách hiệu quả để lấy được lòng tin và
sự hợp tác của họ.
Truyền thông thường đóng
một vai trò quan trọng trong kiểm soát/xử lý tin đồn bởi truyền thông có
thể chỉnh sửa lại các thông tin sai lệch và công bố các thông tin có cơ
sở xác thực, đáng tin cậy. Để phòng ngừa sự lan truyền các tin đồn sai
lệch, các cuộc họp báo hoặc cung cấp tin tức thường xuyên về tình huống
“có vấn đề” và lý giải những gì đang xảy sẽ rất có ích.
Đó là từ phía người quản lý. Còn từ phía công chúng thì sao, làm sao tăng "sức đề kháng” trước tin đồn thất thiệt?
Như thế, những
người tiếp nhận thông tin từ Internet hay từ các nguồn khác mà không có
năng lực tư duy độc lập hay phê phán sẽ là những người dễ bị lẫn lộn, bị
lừa dối hay bị tổn thương nhiều nhất. Trong bối cảnh này, việc trang bị
cho học sinh, sinh viên các kỹ năng tư duy độc lập, phê phán, ngay từ
khi còn đi học là cách làm nên khuyến khích. Tư duy độc lập và phê phán
giúp con người xét đoán, quyết định tin hay không tin vào một điều gì đó
bằng cách đặt ra các câu hỏi về những kiến thức, dữ kiện hay ý kiến mà
người đó nhận được. Đây cũng là một cách thức quyết định xem, liệu một
thông tin nói chung hay một tin đồn nói riêng là đúng, đúng một phần hay
sai lệch hoàn toàn. Phát triển tư duy độc lập, phản biện cũng giống như
cách thức "tiêm phòng” vắcxin, là cách tự bảo vệ mình tốt nhất trước
các tác động tiêu cực của những thông tin xấu, tin đồn thất thiệt.
Xin cảm ơn ông!
Lê Ngọc Sơn(Thực hiện)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét