LÒNG TỰ TRỌNG
Lòng
tự trọng của một con người là
sự tự biết coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Người ta
thường
nhận xét: “Hắn ta quả là người biết tự trọng”, hoặc: Nói vậy là đã “chạm
đến
lòng tự trọng”; "Thằng cha ấy làm gì có lòng tự trọng, quên nó đi"...
Yếu tố căn bản nhất trong nhân cách làm người là phải có lòng tự trọng.
Đối với người cộng sản chân chính, lòng tự trọng cần được khẳng định ngay từ khi nguyện phấn đấu và viết đơn xin vào Đảng. Đó là phẩm chất đầu tiên cần có, nếu không rất dễ bị sự tác động của khách quan và lối sống thường tình bên ngoài làm mất đi bản chất đạo đức cách mạng, suy thoái, biến chất, chữ đảng viên cộng sản chỉ còn là cái vỏ bọc bề ngoài.
Con người sống trên đời còn có xã hội, có cộng đồng.
K.Marx định nghĩa: “Con người là tổng hòa
các mối quan hệ xã hội”. Tâm lý học không phủ nhận bản chất của di truyền.
Tuy nhiên, di truyền cũng chỉ là một yếu tố nhỏ trong "tổng hòa các mối
quan hệ xã hội" mà thôi. Theo quan điểm của Tâm lý học thì con người khi
mới sinh ra, bản chất là trống rỗng, tâm hồn của một đứa trẻ được ví như một tờ
giấy trắng, gia đình, nhà trường và xã hội sẽ "vẽ" những nét vẽ lên
tâm hồn của đứa trẻ. Bản chất của một con người sẽ là sự giao hòa của ba nét
vẽ: Gia đình, nhà trường và xã hội; khi lớn lên là tự mình, môi trường, xã hội.
Trong tổng hòa các mối quan hệ ấy có mối
quan hệ cơ
bản và mối quan hệ không cơ bản nên mỗi người sẽ có thuộc tính cơ bản,
phổ
biến, mực thước và thuộc tính không cơ bản. Thông thường, một người đã
ra làm
quan, hoặc cao hơn là làm vua, phải sống sao cho cả xã hội tôn trọng.
Một kẻ vô giáo dục thì khi làm quan sẽ trở thành loại đồ tể, độc đoán,
chuyên quyền, tham lam, sống rất cá nhân vị kỷ.
Thực tế cho thấy khi ta ở trong đám đông, nhờ tâm lý
bầy đàn ta thấy mình mạnh mẽ lên, nhưng khi ta ở một mình bỗng lại thấy sợ hãi.
Người này khi hoạt động trong xã hội, do có luật pháp và người khác giám sát
nên anh ta phải thực hiện. Nếu tự giác hơn, khi ở một mình anh ta cũng tự ý
thức được và hành động như vậy. Nhưng có hiện tượng mà người ta đã áp dụng vào
“phân tâm học”, một biện pháp để trị bệnh thần kinh là đưa một người có dấu hiệu ttâm thần không bình thường vào phòng
kín biệt lập, tách khỏi cộng đồng, thôi miên làm mất ý thức trong đầu và người
bệnh sẽ làm theo đúng bản chất thật của mình. Ở đây muốn nói là cần phân biệt
rõ cái Tôi có thật và cái Tôi giả tạo.
Khi sinh sống trong cộng đồng con người
phải tự đặt
mình vào những luật lệ phép tắc của xã hội, tức là phải chịu sự tác động
ngoại
cảnh để bổ túc, cải biến bản thân phù hợp cái chung nhất, những đòi hỏi
chuẩn
mực của xã hội. Khi biết đặt mình và “tự cải biến”, tự điều chỉnh làm
cho hoàn chỉnh bản thân, đạt sự tiến bộ cần thiết, đó cũng là thể hiện
lòng tự trọng.
Bản thân người có lòng tự trọng thường không lo người khác không tôn
trọng mình. Nếu
ngược lại là bị tha hóa, là sự tự đào thải, bị người đời coi khinh, phải
chịu
hậu họa tự tách mình ra khỏi cộng đồng. Cộng đồng xã hội khác với thông
đồng
phe nhóm. Uy tín với cộng đồng xã hội mới là có thực, còn chỉ là uy tín
với một
phe nhóm, lại là phe nhóm tập hợp những cái xấu, những kẻ không có lòng
tự
trọng thì coi như tự tách mình ra khỏi cộng đồng xã hội, bộc lộ cách
sống, lối sống không chút tự trọng nào. (Đọc thêm: Từ chức-dễ và khó" :
http://buivanbong.blogspot.com/2012/07/tu-chuc-d.html ).
http://buivanbong.blogspot.com/2012/07/tu-chuc-d.html ).
Tổng hòa là sự hòa mình trong cái chung
hữu ích, gột
bỏ những cái riêng lạc lõng, lạc loài vô ích. Khi sống trong một cộng
đồng mà có nhiều người chê bai, trách cứ, coi thường thì coi như tồn tại
giữa bia miệng thế gian, sống trong nỗi ô nhục. Cái riêng biết hòa
trong cái
chung, và lấy cái chung hữu ích làm hoàn chỉnh bản thân mình. Đó vừa là
quy
luật biện chứng của tạo hóa, vừa là quy luật “đấu tranh và thống nhất
giữa các
mặt đối lập” trong xã hội loài người. Sự
phát triển theo chiều hướng tích cực sẽ phủ định sự tha hóa để đảo ngược lại, đưa con người về với chính
mình, dù tốt hay xấu nhưng đó vẫn là nguyên bản gốc.
Sự tự lực tự cường của mỗi cá nhân vẫn giữ vai trò tiên quyết, xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ mà thôi, nếu đề cao vai trò xã hội quá mức sẽ làm con người mất đi khả năng tự thân vận động. Cho nên, khi nói đến "đấu tranh" người ta vẫn coi tự phê bình là quan trọng nhất, sau đó mới đén phê bình. Người không có lòng tự trọng thường không bao giờ dám tự phê bình, do đó những ý kiến phê bình khác cũng coi như "nước đổ đầu vịt" mà thôi. Nếu ai đó sống chỉ biết cho riêng mình, an phận thủ thường, co lại CÁI TÔI quá lớn, sống kiểu “mũ ni che tai, đèn nhà ai nấy rạng” thì đó là biểu hiện rõ nhất sự xuống cấp về đạo đức. Đến chim cũng có đàn, thú phải có bầy, thực vật mọc lên còn có đám, có vệt, huống hồ con người.
Sự tự lực tự cường của mỗi cá nhân vẫn giữ vai trò tiên quyết, xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ mà thôi, nếu đề cao vai trò xã hội quá mức sẽ làm con người mất đi khả năng tự thân vận động. Cho nên, khi nói đến "đấu tranh" người ta vẫn coi tự phê bình là quan trọng nhất, sau đó mới đén phê bình. Người không có lòng tự trọng thường không bao giờ dám tự phê bình, do đó những ý kiến phê bình khác cũng coi như "nước đổ đầu vịt" mà thôi. Nếu ai đó sống chỉ biết cho riêng mình, an phận thủ thường, co lại CÁI TÔI quá lớn, sống kiểu “mũ ni che tai, đèn nhà ai nấy rạng” thì đó là biểu hiện rõ nhất sự xuống cấp về đạo đức. Đến chim cũng có đàn, thú phải có bầy, thực vật mọc lên còn có đám, có vệt, huống hồ con người.
Tự trọng là một đặc điểm tâm lý nổi bật
trong tính
cách của người Việt ta. Đó là việc tự ý thức về bản thân, không bao giờ
bị
lôi cuôn đến mức tự đánh mất mình trước những ham muốn vật chất, tiền
tài, địa vị, không khuất phục trước cường quyền bạo lực hoặc bất cứ giặc
ngoại xâm nào. Đó là lòng
tự chủ cần thiết, không để người khác coi thường mình dẫu lâm vào mọi
hoàn cảnh khó khăn,
cực nhục.
Cũng bởi lòng tự trọng mà dân tộc Việt Nam ta đã không
bao giờ khoanh tay, cúi đầu làm nô lệ trước sự thôn tính hung hãn của rất nhiều
triều đại phong kiến Trung Quốc xưa và thực dân Pháp, đế quốc Mỹ sau này. Kết
tinh tiêu biểu, cao cả nhất của lòng tự trọng đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại. Thành công của Người trong việc lãnh đạo toàn dân làm cách mạng, rồi
kháng chiến chống thực dân, đế quốc chính là đã khích lệ, phát huy được cao
nhất lòng tự trọng, tự tôn, tự hào dân tộc.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước hôm nay, Đảng ta chủ
trương xoá bỏ mọi hận thù, bắt tay với tất cả các nước, muốn làm bạn với các nước trên thế giới để hợp tác phát triển
kinh tế, có lợi cho quốc kế dân sinh nhưng luôn trên cơ sở phải biết phát huy
tinh thần tự tôn, tự trọng dân tộc, không bị lệ thuộc, lép vế vào bất cứ ai,
luôn giữ sự độc lập, tự chủ. Trong công tác ngoại giao, chúng ta cũng không để
bất cứ nước nào can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia mình. Đó là lòng tự
trọng luôn thường trực trong dòng máu mỗi người dân Việt Nam.
Lòng tự trọng hình thành và phát
triền trong suốt cuộc đời chúng ta. Những trải nghiệm trong thời thơ ấu đóng
vai trò quan trọng trong việc hình thành nên lòng tự trọng. Khi lớn lên, thành
công hay thất bại, cách đối xử của gia đình, bạn bè, thầy cô…đều tác động trực
tiếp và góp phần hình thành nên lòng tự trọng của mỗi người.
Lòng tự trọng cũng có vai trò rất lớn, xuyên suốt, cần thiết trong xã hội. Nó chính là
nhân tố tất yếu trong cuộc sống của một con người. Một khi biết tôn trọng bản thân mình thì sẽ
cảm thấy tự tin, hạnh phúc, thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Không những thế, đó còn
là động lực mạnh mẽ cho con người tiến bước và gặt hái thành công. Chính vì thế lòng
tự trọng là nền tảng định hình thái độ sống để tạo dựng, bồi đắp uy tín cho
chính bản thân mỗi người.
Người không có lòng tự trọng, không biết
xấu hổ (Nam
bộ gọi là mắc cỡ) thường lkà kẻ tham lam, thực dụng, sống chỉ biết vụ
lợi và tự ái rất cao, không muốn ai phê bình, chê bai cái gì
cả, mình xấu, nhưng khi người khác nói đến cái xấu của mình, thì bảo
người ta
cố tình bôi nhọ, nói xấu, rằng xuyên tạc sự thật, thích khen, khoái tâng
bốc (?!). Những người thiếu tự trọng, một khi đã gặp những
thất bại trọng cuộc sống sẽ rất dễ bi quan, chán nản, bất cần… Những hậu
họa của lối sống này khiến họ nhiều khi trở thành thâm thù, hiểm
ác, sinh đa nghi, không còn tin
vào ai nữa, trở nên mặc cảm với bản thân mình, tinh thần ngày càng sa
sút. Những vị lãnh đạo có cá tính, lối sống như vậy thì rất ngại nói đến
dân chủ, bởi vì sợ người đời phanh phui những mánh lới gian trá, những
chuyện "đi đêm" kiếm mồi kiểu chồn cáo của mình…
Bài học rút ra cho bản thân khi có lòng tự trọng là
dám nhìn thẳng vào mặt yếu, mặt trái, khuyết điểm của mình mà rèn giũa, tôi
luyện lòng tự trọng trong những tình huống phức tạp diễn ra trong cuộc sống, tránh những biểu hiện
tự ti, tự ái cao, cố tình vùi lấp, che giấu khuyết điểm, đồng thời cố gắng tự
vượt lên chính mình, để vững tin bước về phía trước…
Đọc truyện “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải ta nhận
thấy những vấn đề nhân sinh thiết thực mà nhà văn đặt ra. Trong tác phẩm,
nhân vật bà Hiền từng bày tỏ quan điểm dạy dỗ con cái, chú ý cách dạy con: “Biết
tự trọng, biết xấu hổ, còn sau này muốn sống ra sao thì tùy”. Vấn đề “lòng tự
trọng” mà nhà văn đề cập đến trong câu nói của nhân vật, là một trong những
quan niệm nhân sinh thiết thực ấy.
Là một người Hà Nội, bà Hiền rất quan tâm đến việc dạy
dỗ, chỉ bảo con cái. Bà dạy con học lối sống của người Hà Nội , “học cách nói
năng, đi đứng phải có chuẩn mực, không được sống tùy tiện, buông tuồng”. Bên cạnh đó,
bà còn dạy con phải biết tự trọng. Dạy con biết tự trọng, biết xấu hổ là dạy
một nhân cách sống có văn hóa. Điều đó chứng tỏ rằng bà có ý thức rất cao về
lòng tự trọng. Bà coi lòng tự trọng là nguyên tắc hành xử cao nhất của con
người. Bà ghét sự ăn bám, sống bám, ăn cắp, lưu minh ba xạo, ghét sự dựa dẫm vào người khác.
Ở bà Hiền lòng tự trọng gắn liền với ý thức và trách
nhiệm của một công dân yêu nước, một bản lĩnh cá nhân mạnh mẽ. Những lời bộc
bạch chân thành chứng tỏ bà có khả năng vượt lên trên cái nhất thời, cái thói
thường để đạt tới cái bền vững theo niềm tin riêng của chính mình. Việc bà đặt
quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi cá nhân cũng chính là biểu hiện của lòng
yêu nước, lòng tự trọng, của một cốt cách văn hóa người Việt lắng sâu tấm lòng
yêu nước.
Có lẽ nhận diện ra sự yếu kém nghiêm trọng làm phát sinh hệ lụy ấy, tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6, ngày 1-10, TBT Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh:
... "Chúng
ta đều biết, cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ;
do đó công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng
Đảng…Công tác quy hoạch cán bộ cũng còn
không ít hạn chế, yếu kém, như nhiều trường hợp chưa gắn với việc đánh giá cán
bộ hoặc chưa căn cứ vào kết quả đánh giá cán bộ; chưa thật sự xuất phát từ yêu
cầu, nhiệm vụ công tác; chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ;
chưa có tầm nhìn xa, dẫn đến tình trạng lúng túng, hẫng hụt mỗi khi cần bổ
sung, thay thế; đặc biệt, chưa xây dựng được quy hoạch cán bộ cấp chiến lược"...
Hiểu được giá trị của mình ta sẽ
hiểu được giá trị của
những người khác. Sống đúng, sống đẹp trước hết phải "mình vị mọi
người", thường xuyên biết quan tâm đến người khác, làm lãnh đạo thì biết
đứng ở cương vị người dân để giải quyết những vấn đề thuộc quốc kế dân
sinh, việc không có lợi cho dân, biết là làm việc đó sẽ mất lòng dân thì
phải hết sức tránh. Lòng tự trọng là cơ sở đầu tiên để xây dựng lòng
tin vào xã
hội. Lòng tự trọng là sự song hành giữa nhận thức và hành động, giữa lời
nói và
việc làm. Đó mới là bản chất đích thực của lòng tự trọng. Lòng tự trọng
đâu chỉ
gói gọn trong vấn đề mỗi cá nhân mà nó còn là vấn đề của cả một dân tộc.
Một
dân tộc có lòng tự trọng sẽ khẳng định được chỗ đứng của mình trên
trường quốc
tế, vị thế và tầm vóc của dân tộc đó cũng được nâng cao cùng với thời
gian.
Rõ ràng, lòng tự trọng là phẩm chất đầu tiên mà mỗi con người cần phải có, nó là con đường ngắn nhất đưa ta đến bền bờ của sự thành công.
Rõ ràng, lòng tự trọng là phẩm chất đầu tiên mà mỗi con người cần phải có, nó là con đường ngắn nhất đưa ta đến bền bờ của sự thành công.
Người biết tôn trọng bản thân luôn có khả năng nhận
xét, đánh giá mình một cách chính xác trong bất cứ trường hợp nào, biết tự nghiêm khắc với chính mình. Điều này có
nghĩa họ luôn biết rõ đâu là điểm mạnh, điểm yếu của mình, đồng thời thừa nhận
giá trị bản thân mà không cần điều kiện.
Kẻ không biết tự trọng thường “tranh công, đổ lỗi”. Một vụ việc nào đó do những người khác làm, nhưng khi thấy việc đó có lợi cho bản thân mình, tự đánh bóng cho mình thì vơ vào là “tôi làm cả đấy”, công của tôi đấy. Việc sai lầm khi bị phanh phui thì cố tình, dùng nhiều thủ đoạn, thậm chì hô hét lên là do người này, do kẻ khác, còn mình vô can. Họ hành động một cách ngớ ngẩn, vô ích để chống lại mọi thứ rồi chờ người khác đến giải cứu. Khi cần thì họ tỏ vẻ đáng thương hại hay vẻ thờ ơ, mặt tỉnh như ruồi nhằm trốn tránh trách nhiệm thay đổi cuộc sống chính mình; luôn luôn trông chờ vào sự hướng dẫn, trợ cứu, tập hợp phe cánh cho đông đảo, do đó trở thành người thiếu quyết đoán, khó thành đạt và hay ỷ lại, uy tín đã mất lại thêm mất mặt trước dư luận xã hội. Làm lãnh đạo là đứng ở vị trí toàn xã hội, tập thể lớn trong cộng đồng nhìn vào, cần có lòng tự trọng lắm thay!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét