Giang Văn Minh
Là lính thông tin chắc ai cũng biết Trụ sở BTL đóng tại phố Giang Văn Minh, quận Ba Đình, Hà Nội, tuy nhiên không phải ai cũng biết ông là ai. Bài viết này của TS Nguyễn Xuân Diện sẽ cung cấp thêm thông tin cho các bạn muốn tìm hiểu về vấn đề này.
| Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh |
| Ảnh: Đền thờ Giang Văn Minh. Ảnh: internet |
Đường Lâm cổ ấp quê tôi là quê
hương của Thám hoa Giang Văn Minh người đã từng được cử làm Chánh sứ
sang Trung Quốc. Ông bị vua quan nhà Minh giết tại Yên Kinh (TQ) bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Khi đưa thi hài về đến quê nhà, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng [rể Đường Lâm] bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1], ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).
Dưới đây là chép từ Từ điển Wikipedia:
Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638[1]) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi.
Cuộc đời và sự nghiệp
Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637),
ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng
với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân
Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh[1]. Sau khi chết, ông được truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1].
Giai thoại
Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài[4]. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.
Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:
Giai thoại
Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài[4]. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.
Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:
- “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”" Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã xanh[5]
Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết,
Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt
vong).
- "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng"
Nghĩa là:
- Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ[5]
Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.
| Quán Giang. Nơi quàn thi hài Giang Văn Minh |
Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem
là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá
quan của Thiên triều và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa
giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã
trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ
bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc
này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư
Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa
thi hài ông về nước[5][6] Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông[5] và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1], ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ)[7].
| Mộ Giang Văn Minh với bốn chữ THIÊN CỔ ANH HÙNG. |
Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang
Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, [thực ra là Gò
Đõng - NXD] thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm[7].
Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi
linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang. Hiện nay, nhà thờ ông ở
làng Mông Phụ đã được nhà nước Việt Nam xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa[5].
Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình.[8]
Tác phẩm
Tác phẩm
Hoa Nghiêm tự bi: trên tấm
bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng,
tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636)
là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628),
chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh.[9]
| Hình ảnh sáng nay 24 tháng 07 năm 2011: một người biểu tình mang biểu ngữ viết câu đối của Thám hoa Giang Văn Minh "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng". |
Đánh giá
Ông là người trí dũng song toàn.[10]
Thi sĩ Hoài Yên có thơ rằng:Giang Văn Minh
Một sớm về thăm Mông Phụ ấp,
Suốt đời nhớ mãi Thám hoa môn.
Ngoại giao, lo tính tìm mưu chước,
Đối đáp, không làm thẹn núi sông.
"Đồng trụ chí kim đài dĩ lục,
Đằng giang tự cổ huyết do hồng".
Quên thân, quyết báo đền ơn nước,
Khí tiết xin phơi một tấm lòng.
(Chân dung. Thơ Hoài Yên. Nxb. Hà Nội, 2008. tr21).
Mời các bạn nghe khúc hùng ca Sứ thần Giang Văn Minh:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét