Tạ Duy Anh Bauxite Việt Nam
Bui
một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn
cuộn nước triều Đông
(Nguyễn Trãi)
Lời tự bạch:
Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong,
thất phu hữu trách”. Người thất học còn phải chịu trách nhiệm trước sự hưng
vong của xã tắc, nữa là một kẻ ít nhiều có đọc qua vài trang sách Thánh hiền.
Tôi có ba tư cách để viết chuyên luận
này: Tư cách con dân Việt, tư cách chiến binh Việt bẩm sinh và tư cách một kẻ
sĩ Việt.
Tôi dựa trên nền tảng quan điểm sau:
- Mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc
trong thế kỷ 21 là thôn tính Biển Đông và đối thủ số một là Việt Nam .
- Việt Nam là nước nhỏ hơn nên luôn
cần hoà bình, sống yên ổn bên cạnh Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng cần yên bờ
cõi không kém, đặc biệt là cửa ngõ phía Nam, nơi Việt Nam có lợi thế về vị trí
địa lý trong tác chiến.
- Một cuộc chiến tổng lực giữa Việt
Namvà Trung Quốc trên Biển Đông là bất phân thắng bại nhưng là thảm hoạ cho cả
hai nước. Cả Việt Nam
và Trung Quốc đều cần hoà bình.
Tôi tin rằng:
- Thượng sách là làm sao để sống hòa bình với Trung Quốc mà vẫn giữ được
chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền tinh thần (bao gồm chính trị, văn hóa, lối
sống…)
- Hạ sách là phải lựa chọn chiến tranh, dù ngắn hay dài, bởi hệ lụy
của nó thì chưa thể biết hết, nhưng điều biết trước là – do cùng chung biên
giới – sau sự tan hoang, đổ máu sự căng thẳng luôn trở về đúng điểm xuất phát
khi chưa xảy ra binh đao và nguy hiểm hơn là nó tiếp tục làm tăng thêm mối hằn
thù dân tộc là thứ sẽ để lại hậu quả cho con cháu lâu dài.
- Tối hạ sách là quá sợ chiến tranh mà đành ôm mối nhục để kẻ thù xâu xé
cương vực, nuốt dần lãnh thổ, giết hại dân lành.
Chuyên luận chia làm ba phần: Bản chất của mối quan hệ
Việt-Trung; Biển Đông và những điều có thể xảy ra; và Dự đoán hành động của
Trung Quốc và sự lựa chọn của Việt Nam .
Tôi được khích lệ, chia sẻ ý tưởng từ
nhiều người, nhất là những bạn trẻ nhiệt huyết với vận mệnh đất nước, những
đồng nghiệp nhiều ưu tư nhưng vì nhiều lý do mà không thể tự do phát biểu quan
điểm như tôi. Tôi xin tặng lại chuyên luận này cho họ.
Có thể những gì tôi suy nghĩ và viết
ra chỉ đáng là những điều vô bổ, nông cạn hoặc là những chuyện đã biết rồi,
không ai cần đọc. Nhưng tôi không vì điều đó mà nản chí bởi đây là tấm lòng của
tôi với đất nước, một đất nước chưa bao giờ thôi khốn khó nhưng là nơi duy nhất
tôi có thể sống và chết. Tôi cũng không giấu giếm rằng, cho đến khi hạ chữ cuối
cùng của chuyên luận này, tôi vẫn chưa thoát khỏi cảm giác Nghĩ mãi không ra.
PHẦN I: BẢN CHẤT CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT-TRUNG
- Xu hướng chủ chiến muốn
Việt Nam dàn quân ngay tức khắc, cụ thể là đưa tàu chiến, máy bay ra để đối lại
với những hành động bắt nạt, cướp bóc và giết hại ngư dân Việt Nam mà phía
Trung Quốc thực hiện, khi điều kiện cho phép có thể dùng vũ lực đánh chiếm lại
quần đảo Hoàng Sa và những vị trí bị Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường
Sa. Xu hướng này cũng lập tức kết tội chính quyền hiện tại hèn nhát, bán nước,
làm tay sai cho Trung Quốc và yêu cầu họ nhường quyền lãnh đạo đất nước cho
những lực lượng khác. Trong khi chưa thể chỉ ra lực lượng khác ấy là lực lượng
nào, những người theo xu hướng này có lẽ cũng đã quên rằng, phần quần đảo Hoàng
Sa rơi vào tay Trung Quốc năm 1974 là từ quyền kiểm soát của chính quyền Việt
Nam Cộng hoà, đồng minh số 1 của Hoa Kỳ lúc ấy, khiến hơn 60 chiến sĩ hải quân
là con dân nước Việt bị bắn chết một cách tức tưởi trong cảm hứng vô cùng dã
man của kẻ thù. Với một hạm đội khổng lồ của ông bạn lớn Hoa Kỳ nằm cách đó vài
chục km, với rất nhiều vũ khí hiện đại, nếu người Việt (cụ thể là chính quyền
miền Nam lúc ấy) định dàn quân giành lại Hoàng Sa thì không còn cơ hội nào tốt
hơn chính thời điểm đó. Thực tế này với chính sách bị coi là nhu nhược của
chính quyền hiện tại như một số người quy kết, là hai vấn đề khác nhau và mỗi
vấn đề đều cần phải làm rõ, rạch ròi, công bằng trước lịch sử.
- Xu hướng dân tộc chủ nghĩa cứng rắn muốn
dựa vào tinh thần dân tộc, tinh thần bài Hán để thể hiện quan điểm cứng rắn với
Trung Quốc. Giới hạn của xu hướng này là công khai đối đầu với Trung Quốc về
chính trị, ngoại giao, thậm chí nếu cần thì cắt đứt bang giao, sẵn sàng cho một
cuộc đánh trả bằng quân sự. Xu hướng này gây sức ép với chính quyền để họ phải
tỏ rõ thái độ chống lại Trung Quốc bằng lời lẽ và hành động ngay lập tức.
Nếu sau mọi chuyện, sáng dậy mở mắt
ra chúng ta đã không còn là láng giềng của Trung Quốc thì chẳng có gì phải bàn
nhiều.
Thực ra dưới thời cố Tổng bí thư Lê
Duẩn, quan hệ Việt-Trung là thể hiện rõ ràng nhất của xu hướng này, với đỉnh
cao của cuộc đối đầu là trận chiến biên giới năm 1979, kéo dài 30 ngày trên lý
thuyết nhưng phải hơn 7 năm sau mới chấm dứt được sự đổ máu, sau khi để lại một
biên giới tan hoang và một nền kinh tế kiệt quệ. Đấy là chưa kể thiệt hại lớn
nhất về nhân mạng mà con số chắc chắn là nhiều vạn người vẫn còn trong vòng bí
mật quốc gia!
- Xu hướng dân tộc chủ nghĩa
mềm dẻo muốn Việt Nam độc lập với Trung Quốc về chính trị, ngoại giao để
tự chủ quan hệ đồng minh với những quốc gia có chung lợi ích chiến lược ở Biển
Đông, số 1 là Hoa Kỳ, khiến Trung Quốc không dám cậy mạnh lấn lướt mà phải lựa
chọn sự hữu hảo bình đẳng. Mặt khác nhà cầm quyền cần từ bỏ ý thức hệ Xã hội
chủ nghĩa như một mặc định vô lý, nhanh chóng dân chủ hoá đất nước theo tấm
gương của một số quốc gia phát triển trong khu vực để nâng cao sức mạnh dân
tộc, tập hợp được mọi lực lượng, tiến tới đưa nước ta thành một cường quốc kinh
tế, quân sự… Khi đó nền hoà bình với Trung Quốc sẽ tự nhiên được thiết lập và
có cơ sở để bền chắc và có cơ hội để đòi lại những phần lãnh thổ bị Trung Quốc
chiếm đóng trái phép.
Hàng loạt kiến nghị, tuyên bố… của
những nhân sĩ, trí thức, công, nông, binh… trong thời gian qua là theo xu hướng
này. Cùng với đó là những đợt người dân hai thành phố lớn xuống đường giương
biểu ngữ phản đối Trung Quốc khi có sự cố nào đó họ gây ra trên Biển Đông.
Đây là xu hướng trước sau đất nước
cũng phải lựa chọn, bởi nó mang tính tất yếu về mặt phát triển, đáp ứng nhiều
nhất lợi ích của dân tộc trên mọi phương diện. Tuy nhiên khi tiếp cận ở một vài
vấn đề then chốt vẫn còn hấp tấp, thiếu đi độ lạnh của lý trí, sự điềm tĩnh cần
thiết để duy trì sự tỉnh táo. Chính vì thế nhiều ý tưởng đầy trách nhiệm với
quốc gia, xuất phát từ những tấm lòng lớn với xã tắc, lại bị lồng trong cái vỏ
của thứ ngôn ngữ chỉ dùng khi chửi bới, miệt thị, chế nhạo khiến mất đi tính
đối thoại, rất đáng tiếc. Ngoài ra, vì để cho sự bức xúc chi phối mà nhiều ý
kiến thành tâm bị mọi người hiểu sai, dẫn đến tác giả của nó bị vùi dập không
thương xót, cũng làm mất đi không khí bàn bạc, tôn trọng nhau mà đáng ra giới
trí thức phải gương mẫu duy trì (*). Với cá nhân tôi, những gì xảy
ra giữa một bộ phận người dân với chính quyền Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,
sau đó là với Nhà nước Việt Nam thời gian qua là một bi kịch dân tộc. Trong khi
kẻ thù đang lăm le ăn sống nuốt tươi lãnh thổ của Tổ Quốc, thì nội bộ Dân tộc
lại bị phân tán. Tôi phản đối mạnh mẽ cách thức hành xử của chính quyền khi đàn
áp biểu tình, tấn công các blogger có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc. Hành
xử như vậy cho thấy chính quyền thiếu tự tin về trí tuệ nhưng lại quá tự mãn,
ngạo mạn với vai trò và quyền lực của mình. Chính quyền không thể cho mình cái
quyền không cần đối thoại với dân chúng mà chỉ một mực đòi họ tuyệt đối tin
tưởng, trước một vấn đề nước sôi lửa bỏng như vấn đề chủ quyền và sinh mệnh
đồng bào. Họ là những người dân bình thường, không thể đòi hỏi họ cũng phải tư
duy như những chính khách và càng không thể vì thiếu tư duy ấy mà họ bị khép
tội. Họ có quyền lo lắng cho đất nước và cần biết niềm tin của họ có cơ sở hay
không và đang đặt vào đâu. Ngay cả khi phải giữ bí mật, phải đóng kịch với
Trung Quốc để không phá vỡ sách lược nào đó không cần phải cho người dân biết,
thì vẫn có cách chuyển tải điều đó cho dân chúng. Sự vụng về thì có thể thông
cảm được chứ rất khó mà chia sẻ với cái kiểu “bí thí tốt” như đã xảy ra.
Nhưng mặt khác cũng phải nói một sự
thật rằng, chúng ta không thể đối phó được âm mưu của Trung Quốc muốn chiếm
vĩnh viễn Hoàng Sa và Trường Sa nếu chỉ bằng những cuộc biểu tình trên đường
phố hoặc những lời hô hào trên Internet. Đánh thức lòng yêu nước, sự cảnh giác
của mọi tầng lớp dân chúng trước âm mưu Hán hoá mà Trung Quốc đang tiến hành
với Việt Nam là cần thiết, thậm chí cấp thiết hơn bao giờ hết và chắc chắn còn
có nhiều cách khác nữa. Nhưng sự tỉnh táo sau đó để giải mã hành động của Trung
Quốc rồi đưa ra đối sách khôn ngoan mới là thứ cần thiết hơn. Chúng ta không sợ
một cuộc chiến tranh với Trung Quốc – nếu nó xảy ra – không có nghĩa rằng chúng
ta luôn sẵn sàng để tuyên chiến với Trung Quốc, đặt đất nước thường xuyên bên
bờ vực chiến tranh. Những lời hô hào kích động cho một cuộc chiến tranh thấy rải
rác đâu đó, là vô cùng thiếu lý trí, thậm chí là vô trách nhiệm. Nếu ai đó ở
Trung Quốc cũng nuôi quan điểm như vậy với Việt Nam , cho dù họ ở thế nước lớn gấp
30 lần chúng ta, cũng đáng bị coi là thiển cận.
Một cuộc chiến tranh với Trung Quốc
là điều đầu tiên chúng ta (và không chỉ chúng ta, ngay nước Mỹ, nước Nhật…)
phải tìm mọi cách để tránh khi còn có thể. Bản thân Trung Quốc cũng phải làm
điều tương tự với các láng giềng của họ, ngoại trừ họ ảo tưởng mù quáng về sức
mạnh hoặc có kẻ nào đó trong giới chóp bu tại Bắc Kinh lại thích cá cược với
lịch sử. Tìm mọi cách để tránh, khác với tránh nó bằng mọi giá. Đọc lại lịch sử
chúng ta đều nhận thấy ông cha ta cực kỳ nhất quán với quan điểm đó, tức là cố
gắng hoà hiếu đến phút chót và chỉ khi không còn cách nào khác mới phải dùng
đến vũ khí. Trước thế giặc quá mạnh, Triều đình Nhà Trần thậm chí đã nghĩ đến
chuyện buông vũ khí để mong không phải chịu cảnh binh đao khốc liệt có nguy cơ
huỷ diệt cả dân tộc! Sửa chữa sai lầm chết người đó chính là nhân sĩ, trí thức,
tướng lĩnh và những người dân cày Đại Việt. Rút cuộc vua tôi nhà Trần đã khiến
kẻ thù phải bạc tóc hàng trăm năm sau mỗi khi nhớ lại cuộc xâm lược nhục nhã
đó. Bởi vì nhà Trần có những vị vua vô cùng anh minh, lại khiêm nhường (những
người còn tin có thần Phật, trời đất đều khiêm nhường), biết coi sinh mệnh của
xã tắc cao hơn sĩ diện cá nhân, sĩ diện của triều đại. Nhà vua dám nói lên suy
nghĩ của mình, dám thú nhận với bá tính sự kém cỏi, thiếu tự tin của mình trước
một kẻ thù quá mạnh (dám thú nhận sự kém cỏi của mình chưa bao giờ là người kém
cỏi!), cần đến các hiền tài dân tộc, cần tiếng nói quyết định của mọi tầng lớp
nhân dân. Chính nhờ ở tinh thần “bóp nát quả cam”, ở những lời nói khẳng khái
“Đầu thần còn trên cổ thì hoàng thượng chớ lo”, “Nếu định hàng giặc thì trước
hết hãy chém đầu thần đi đã”… mà Triều đình nhà Trần đã kết thành một khối rắn
chắc chôn vùi huyền thoại sức mạnh Nguyên-Mông và tạo nên hào khí Đông A để
tiếng thơm đến muôn đời. Có những bậc minh quân như vậy, những người biết chọn đối
thoại, biết lắng nghe thay vì đối đầu với dân chúng, làm sao kẻ thù có thể
thắng được.
Giờ đây là lúc cả dân tộc cần đến một
sự gắn kết, cần một sự đồng lòng, cần những bộ óc thông minh, trong sạch hơn
bao giờ hết. Bởi vì vận mạng của dân tộc, sự tồn vong của xã tắc chưa bao giờ
bị đặt vào thế chông chênh như hiện tại. Kẻ thù ngày nay không phải là những
đạo quân công khai tuyên bố sẽ làm cỏ cái nước Nam nhỏ bé với những tối hậu thư
ngông cuồng và lỗ mãng, ép con dân Việt phải cầm vũ khí. Kẻ thù ngày nay luôn
mang bộ mặt bạn bè, thậm chí còn là những người có cùng mục tiêu lý tưởng, luôn
luôn vuốt ve bằng những lời lẽ ngoại giao thuộc loại lịch sự nhất. Kẻ thù trước
đây đặt chúng ta vào tình thế hoặc đánh lại hoặc bị tiêu diệt. Kẻ thù ngày nay
tạo cảm giác là chỗ dựa tin cậy, cùng tồn tại và cùng phát triển, vì một mục
tiêu cao cả cùng hướng tới. Nhưng trên thực tế, chưa khi nào nước ta bị xâm
lược ở quy mô lớn và toàn diện như hiện nay. Chưa khi nào nguy cơ lại rơi vào
vòng lệ thuộc ngoại bang của dân tộc chúng ta hiển nhiên như hiện tại. Vì vậy
con dân nước Việt mà đại diện của nó là giới trí thức, phải thật tỉnh táo để
không gây ra trạng thái rối trí.
Chúng ta phải xác định ngay với nhau
rằng, Trung Quốc là mối bận tâm lớn nhất của người Việt, từ cổ sử cho đến muôn
đời. Người Pháp, người Nhật và sau cùng là người Mỹ, chỉ là những yếu tố ngẫu
nhiên làm gián đoạn mối bận tâm chính yếu đó, xét trên suốt hành trình là không
đáng kể cho dù nó cũng đã làm thay đổi số phận của dân tộc. Chính các cường
quốc phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ đã giúp người Việt tạm thời quên đi những
đau thương do Trung Quốc gây ra. Quan hệ Việt-Trung bỗng nồng ấm tình anh em
khi người Pháp và liền sau là Mỹ quyết chia cắt Việt Nam để “ngăn cơn sóng đỏ”. Không
thể trách những nhà chính trị miền Bắc thời ấy khi họ buộc phải dựa vào Trung
Quốc (giống như những nhà chính trị của chính thể Việt Nam Cộng hoà phải dựa
vào Hoa Kỳ) cho dù không ít người nhận ra bên trong những kiện hàng viện trợ là
một tính toán lâu dài về lãnh thổ và lợi ích quốc gia của người Hán. Họ (bao
gồm cả hai phía) đáng trách ở chỗ đã ngạo mạn đánh đồng các mục tiêu chính trị
có tính đảng phái dựa trên những chủ thuyết chính trị, với các mục tiêu dân tộc
vốn cao hơn, thiêng liêng hơn mọi ý thức hệ. Vì thế, người Việt nên trách nhau
một cách nghiêm khắc thì công bằng hơn. Chúng ta đã thất bại quá lâu cho một
cuộc hoà giải dân tộc (**) (giờ này vẫn chưa hết thất bại!), tạo
cơ hội cho các loại ngoại bang nhảy vào xâu xé, chia chác, tự tiện đưa ra những
quyết định theo ý họ trên lưng người Việt. Hàng triệu con cháu của bà Âu Cơ bị
chính người anh em, đồng bào của họ giết chết bởi vũ khí ngoại bang, là điều
khủng khiếp nhất của lịch sử đất nước và các thế hệ tương lai phải tiếp tục suy
ngẫm về cơn bĩ cực đau thương đó. Trong số những ngoại bang ấy thì Trung Quốc
là ẩn số lớn nhất, chứ không phải Hoa Kỳ. Việc Trung Quốc mạnh mẽ viện trợ
chiến tranh cho Bắc Việt Nam nhưng lại không muốn thấy một nước Việt Nam thống
nhất, là bằng chứng rõ ràng nhất về điều đó. Họ muốn người Việt tàn sát nhau
cho tới người cuối cùng để dễ bề nuốt gọn cái dải đất phía Nam mà hàng ngàn năm ông cha họ
không thực hiện được, hoặc ít ra cũng biến thành cái đệm an ninh như họ đang
đạt được với Bắc Triều Tiên. Trung Quốc là bậc thầy thiên hạ về khả năng giấu
kín những mục tiêu chiến lược của mình. Những lời dạy của Đặng Tiểu Bình “Giấu
mình chờ thời” đã nói rõ bản chất của nền chính trị Trung Hoa hiện đại. Giấu
mình khi chưa đủ mạnh. Chờ thời cơ chín muồi, trong đó Trung Quốc đã là cường
quốc, trong khi những cường quốc khác suy yếu, sẽ làm một cuộc trỗi dậy, đánh
úp thiên hạ để rửa nhục cho những thất bại triền miên của dân tộc Trung Hoa
(không phải chỉ thất bại trước người Việt). Thực ra đây là một tư tưởng nguy
hiểm cho thế giới, đặc biệt với những nước láng giềng trong đó có Việt Nam .
Và cũng chính thủ đoạn đầy tinh thần Đại Hán đó đã xác định bản chất của mối
quan hệ không chỉ Việt-Trung mà cả giữa Trung Quốc với thế giới.
Chưa khi nào Trung Quốc ngạo mạn và
tự tin vào sức mạnh của họ như hiện nay.
May mắn lớn nhất là đến giờ này chúng
ta vẫn chưa bị Hán hoá! Trên thế giới hiếm có một dân tộc nào bị đô hộ tới cả
ngàn năm mà lại vẫn sống sót với tư cách một dân tộc, để rồi sau đó phát triển
thành một quốc gia, như Việt Nam .
Đó là bi kịch khủng khiếp cho cả hai phía. Trong khi chúng ta bị dồn đuổi, bị
áp bức, bị lệ thuộc, thì kẻ đô hộ cũng chẳng sung sướng gì. Sau một ngàn năm,
việc người Hán đành phải nuốt hận dừng chân trên đường chinh phạt xuống phía
Nam, chấp nhận có một quốc gia bé hơn họ gần ba mươi lần về diện tích, sống bên
cạnh như một láng giềng, mà lại là láng giềng bướng bỉnh, là nỗi hổ thẹn không
dễ gì quên đi được. Bằng chứng là từ khi nhà nước Đại Việt ra đời cho đến cuối
thế kỷ 20, tức là 1000 năm sau đó, họ đã tám lần xua binh hùng tướng mạnh, lần
lượt đối đầu với sáu triều đại chính của Việt Nam, quyết rửa nỗi nhục đế quốc
mà vẫn không thành. Điều đó xác lập nên mối quan hệ lịch sử trớ trêu và bi thảm
giữa chúng ta và Trung Quốc. Mỗi lần Trung Quốc muốn làm cỏ nước Nam ,
thì thêm mỗi lần họ phải nuốt xuống sâu hơn nỗi nhục thất bại. Nỗi nhục đó là
nỗi nhục Quốc truyền. Ý thức rõ không thể tránh được Trung Quốc, các triều đại
phong kiến Việt Nam đã tìm ra một triết lý sinh tồn bên cạnh người láng giềng
khổng lồ và chưa bao giờ hết tham vọng lãnh thổ, đó là “thần phục giả vờ” (chữ
của cố giáo sư Trần Quốc Vượng). Nghĩa là bề ngoài cha ông ta luôn tỏ vẻ thần
phục Bắc triều với các hình thức dâng lễ vật hàng năm, bẩm báo một cách hình
thức những việc trọng đại, chấp nhận chịu lễ phong vương (tức là chấp nhận
thuộc quốc về mặt hình thức)… Thậm chí sau mỗi cuộc chiến, dù mình là người
chính nghĩa và chiến thắng, nhưng – như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và sau này
là Quang Trung đã làm – vẫn giành cho kẻ thù chút sĩ diện để nó không quá nhục
mà trở nên điên cuồng. Nhưng bên trong thì lúc nào cha ông ta cũng giữ độc lập,
bình đẳng với Trung Quốc trong mọi việc, sẵn sàng – cả về tinh thần (đoàn kết
dân tộc) lẫn vật chất (rèn luyện binh sĩ, vũ khí, chẳng hạn chính sách “ngụ
binh ư nông”… hoàn toàn chỉ để đối phó với Trung Quốc) – để cho gã khổng lồ nếm
tiếp nỗi nhục thất bại nếu nó lại gây can qua. Về phía các triều đại Trung
Quốc, một mặt họ cay đắng chấp nhận sự thần phục mà họ biết rõ là vờ vĩnh đó,
một mặt họ không nguôi tìm cách xóa xổ nước Việt ở phương Nam, khi điều kiện
cho phép. Điều kiện đó là khi nước nhà ta suy yếu hay lủng củng về nội bộ. Điều
kiện đó còn là khi các triều đại của Trung Hoa tiếm quyền nhau và muốn lấy lòng
dân chúng, muốn chứng tỏ họ hùng mạnh, muốn mở mang cương vực (thời điểm hiện tại
có vẻ như đang hội đủ những yếu tố bên trong và bên ngoài như vậy!). Họ đã
thành công với hầu hết các nước nhỏ ở phía Tây, phía Bắc nhưng chưa bao giờ làm
được điều tương tự khi quay xuống phương Nam . Vì thế, sự ngang nhiên tồn tại
một nhà nước của một trong số những tộc Việt không thể tiêu diệt, chính là nỗi
hận truyền đời của người Hán. Vì những mục tiêu lâu dài, trong một số điều kiện
không thể chủ động, Trung Quốc buộc phải làm chỗ dựa cho Việt Nam trong một thời gian. Đây là một
phần của sự thật lịch sử bang giao hiện đại giữa Việt Nam và Trung
Quốc. Sự thật này có vẻ bề ngoài ngọt ngào nhưng bên trong vẫn là cái hạt đắng
đót kết lại từ hàng ngàn năm quá khứ mà chính sách trắng của Bộ ngoại giao Việt
Nam
năm 1979 đã chỉ ra. Cuộc chiến biên giới Tây Nam năm 1978 với chế độ đồ tể
Pônpốt và cuộc chiến phía Bắc năm 1979 với bậc thầy của hắn ta, tuy với hai
quốc gia khác nhau nhưng đều có một điểm xuất phát từ Bắc Kinh. Nó là nút thắt
định mệnh mỗi 250 năm (chính xác chỉ có 190 năm, kể từ cuộc xâm lược của nhà
Thanh, là khẩu độ thời gian ngắn nhất) của lịch sử chưa bao giờ hữu hảo thật sự
giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Giờ đây, cho dù được khoác bằng những
chữ vàng về tình anh em, được tô son trát phấn bởi đủ thứ mỹ tự, thì quan hệ
Việt Nam và Trung Quốc, trên thực tế là quan hệ giữa một con mãnh thú luôn đói
mồi với một con nhím chỉ muốn yên thân nhưng bất khuất, đầy kinh nghiệm thoát
hiểm và có khả năng làm đối phương phải tổn thương. Người Trung Quốc có thể
cũng rất muốn có sự yên ổn ở phía Nam , nhưng với điều kiện các đòi
hỏi về lãnh thổ và lãnh hải – đặc biệt là lãnh hải – của họ phải được thoả mãn.
Mà điều vô lý theo kiểu sô-vanh đó thì không bao giờ được chấp nhận, một khi
người Việt chưa diệt vong. Vì vậy, mọi sự hữu hảo giữa hai đảng, hai nước, hai
dân tộc… chỉ là sự vờ vịt mà cả hai bên đều đọc thấy hết những gì thật sự ẩn
chứa bên trong, sẽ còn kéo dài chưa biết đến bao giờ, ít nhất là chừng nào
chúng ta còn chưa giành lại được Hoàng Sa, hoặc chừng nào Trung Quốc chưa trở
thành một cường quốc dân chủ, có trách nhiệm và do đó từ bỏ tham vọng ngông
cuồng, đầy ảo tưởng thể hiện trên bản đồ lãnh hải hình lưỡi bò.
Có thể đã thừa căn cứ để nói rằng:
Không ai mong muốn làm láng giềng núi liền núi, sông liền sông với Trung Quốc
như những gì thế giới chứng kiến ở họ. To lớn như nước Nga hay Ấn Độ họ cũng
không thích thú gì có một ông bạn thâm hiểm, tham tàn và khó lường như Trung
Quốc ở bên cạnh. Trong nửa sau thế kỷ 20, Trung Quốc trực tiếp và gián tiếp gây
chiến tranh với hầu hết bạn bè lân bang, đúng tinh thần của Binh pháp Tôn Tử:
“Viễn giao, cận công”. Vì thế, số phận quả là khắc nghiệt đã đặt chúng ta bên
cạnh Trung Quốc, lại ở phía dễ tổn thương nhất. Việc thất bại trong quá trình
đồng hoá và xâm lược Việt Nam
suốt hai ngàn năm, chưa phải là bài học cuối cùng cần khép lại vĩnh viễn với
người Trung Quốc. Họ sẵn sàng theo đuổi tiếp hai ngàn năm nữa để thực hiện mục
tiêu đó. Mấy chục năm hữu hảo, mấy trăm triệu đô la viện trợ để chúng ta có thể
“đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng” chỉ là bước đi nhỏ, của một tính toán
dài hạn, lạnh lùng, không thay đổi một li một lai mà người Trung Quốc vạch ra
chi tiết cho việc thôn tính chúng ta. Xét về mọi khía cạnh thì đây là một thực
tế bi thảm mà chúng ta phải đối mặt. Bi thảm vì chúng ta luôn ở thế lép vế so
với họ; bi thảm vì chúng ta không có quyền lựa chọn không gian sống khác; bi
thảm vì dân tộc chúng ta là một dân tộc quật cường, hoặc sống hoặc chết chứ
không trở thành họ, càng không trở thành một bộ phận dơ dáy của họ. Bi thảm còn
vì chúng ta không thể nhắm mắt lại rồi hy vọng khi mở ra đã ở bên một nước khác
không phải Trung Quốc. Chúng ta, trong bất cứ khoảnh khắc nào đều không được
phép sao lãng công việc để ý ông bạn láng giềng. Bỗng dưng nó mạnh lên là phải
cảnh giác. Nhưng đột nhiên nó có nguy cơ tan vỡ cũng lại là mối nguy hiểm. Thấy
họ cãi nhau với người hàng xóm khác (chẳng hạn như những căng thẳng gần đây
giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay Philippines), phải nghĩ ngay đến việc họ đang
giương đông kích tây, đánh lừa dư luận khỏi chú ý đến mục tiêu chính ở Biển
Đông, tức là có thể bất ngờ đánh úp mình bất cứ lúc nào.
Nhưng có lẽ bi thảm nhất là vô tình
chúng ta đóng vai trò vật cản tự nhiên của tham vọng bành trướng Đại Hán
Trung Quốc. Đây là thực tế phũ phàng xác định tính thực chất lâu dài cho mối
quan hệ Việt-Trung.
Nói gọn lại, chừng nào Trung Quốc còn
nuôi ý đồ độc chiếm Biển Đông, chừng nào Trung Quốc còn chiếm đóng trái phép
quần đảo Hoàng Sa, tìm cách gặm dần Trường Sa của Việt Nam, chừng nào người
Việt Nam còn không chấp nhận sự chiếm đóng của Trung Quốc trên một phần lãnh
thổ, không chấp nhận sự lệ thuộc tinh thần, thì chừng đó quan hệ Việt-Trung là
quan hệ của hai đối thủ, mọi sự hữu hảo chỉ là tạm thời và vờ vĩnh. Thực chất
của mối quan hệ đó là bên này tìm cách cô lập, làm suy yếu bên kia càng nhiều càng
tốt (trên thực tế điều này chỉ đang diễn ra một chiều, từ phía Trung Quốc). Với
Trung Quốc là cả một chiến lược toàn diện, dài hạn, nhất quán, được chuẩn bị kỹ
với tầm nhìn hàng trăm năm từ chuẩn bị lực lượng quân sự, chèn ép về buôn bán,
giao thương, xâm lược văn hoá, quấy nhiễu, gây rối an ninh, áp đặt dư luận bằng
quy mô tuyên truyền lớn, thao túng hàng hoá, tiền tệ, công nghệ, làm suy thoái
nòi giống Việt (***)… không thể kể hết, đến những can dự vào chính trị,
chia rẽ nội bộ, kiềm toả về ngoại giao, kinh tế, nhằm làm cho Việt Nam suy yếu
toàn diện, … Còn về phía Việt Nam, chúng ta chỉ có một cách duy nhất là tỉnh
táo thoát khỏi những mưu mô đó của Trung Quốc, tận dụng thời cơ trong đó có cả
những mâu thuẫn giữa các cường quốc để phát triển. Về phần Trung Quốc, họ nắm
toàn bộ sự chủ động, có thể đề ra luật chơi theo ý mình nhưng tuyệt đối không
phải vì thế mà họ có quyền định đoạt. Về phần mình, chúng ta bắt buộc phải sống
bên cạnh họ – nhiều người có vẻ không nhớ thực tế đơn giản này – đành ở vào thế
phải nương theo và vì vậy chúng ta chỉ có thể tồn tại và phát triển bên cạnh
Trung Quốc bằng một đối sách khôn ngoan.
PHẦN II: BIỂN ĐÔNG VÀ ĐIỀU CÓ THỂ XẢY RA
Trung Quốc luôn viện dẫn căn cứ vùng biển lịch sử để
bào chữa cho lý do họ muốn chiếm trọn Biển Đông. Một trong những căn cứ mơ hồ
đó là tên gọi lấy phương vị dựa theo lục địa Trung Quốc: Biển Nam Trung Hoa.
Diễn nôm ra theo ý họ thì đó là vùng biển phía Nam của Trung Quốc. Đây là sự diễn
dịch vô lối: từ phương diện thuận tiện cho hàng hải biến thành phương diện chủ
quyền. Nó cũng là căn cứ mang màu sắc nước lớn bắt nạt thiên hạ. Trung Quốc chỉ
nên lấy đó làm niềm tự hào dân tộc – trên phương diện địa lý, văn hoá, chủng
tộc. Thực tế là từng có cả một đại dương mang tên nước Ấn Độ song điều đó không
có nghĩa Ấn Độ có chủ quyền toàn bộ cái đại dương mênh mông đó. Mexico trong quan hệ chủ quyền với vịnh Mexico
sẽ là ví dụ tiếp theo.
Nhưng mọi tranh cãi chỉ là vô ích và
vô nghĩa khi chúng ta hiểu người Trung Quốc nghĩ gì và muốn gì.
Người Trung Quốc tự coi họ là trung
tâm của thế giới. Đây vừa là sự phô trương văn hoá, niềm hãnh diện tinh thần
của một dân tộc lớn, nhưng chính điều đó cũng bắt đầu cho một bi kịch Trung Hoa
kéo dài hàng ngàn năm qua chưa tìm ra lối thoát. Các triều đại Trung Hoa, với
vị thế của một nước trung tâm, là vua thiên hạ, đã cố công để cho tấm áo khoác
ngoài xứng tầm với vóc dáng của họ. Nhưng chính vì sự cao ngạo dân tộc đó mà
suốt hàng ngàn năm, nước Trung Quốc thấy tự đủ là một thế giới, không cần phải
mở ra bên ngoài, nơi chỉ là phên dậu, man di của họ. Hoàng đế tài giỏi Càn Long
trở thành gã vua gàn khi cứ khăng khăng trước sứ thần người Anh là cho dù các
ngươi tài giỏi đến đâu, cũng thua xa nước trẫm! (Chỉ mấy chục năm sau, Trung
Quốc phải nhục nhã nhượng Hồng Kông cho Anh Quốc và chịu sự sai bảo như một
thuộc quốc). Nghe nói Mao không thèm học ngoại ngữ, bởi vì với ông ta “Thế giới
phải học tiếng Trung Quốc!”. Đó là một phần lý do khiến Trung Quốc ngủ yên trên
ngai vàng suốt nhiều thế kỷ, tụt lại khá xa so với thế giới phương Tây và Nhật
Bản.
Bi kịch xuất phát từ sự kiêu ngạo
Trung Hoa khiến nước Trung Quốc chậm phát triển, bị canh chừng trên toàn thế
giới. Nhưng điều đó chưa thấm vào đâu so với bi kịch về mặt địa lý trước vị thế
của một cường quốc. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nga… đều là những cường quốc thông
với thế giới, hoặc có khả năng mở ra mọi hướng. Riêng Trung Quốc thì lọt tỏm
giữa các thành trì – xét theo cả hai nghĩa. Phía Bắc là nước Nga khổng lồ, phía
Đông là Nhật Bản và không gian “lợi ích cốt lõi về an ninh” của Hoa Kỳ, phía
Tây có Ấn Độ án ngữ, thêm vào đó là vùng đệm Hồi Giáo bị cạnh tranh ảnh hưởng
mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Nga. Về mặt địa lý đó đều là những vùng núi non hiểm
trở, đất đai cằn cỗi do sa mạc hoá, lại luôn bất ổn về chính trị, sắc tộc, rất
khó kiểm soát. Đó là lý do vì sao Trung Quốc quyết tâm gây chiến với Ấn Độ để
thôn tính hoàn toàn vùng đất mà Ấn Độ gọi là Nam Tây Tạng làm ngõ ra phía Tây
bằng cái giá đắt. Rủi cho họ là mục tiêu đó chưa thành. Như vậy là ba lối ra
của gã khổng lồ mơ giấc mơ đại cường đều vấp phải thành luỹ khó vượt qua, thậm
chí là không thể vượt qua. Cuối cùng chỉ còn duy nhất ngả phía Nam, nơi có vùng
biển rộng gần bằng nửa diện tích Trung Quốc, nối với ba lục địa quan trọng là
châu Âu, châu Mỹ, châu Phi (tức là phần lớn thế giới) và hai đại dương chiến
lược. Vùng biển này quan trọng với Trung Quốc cả về quốc phòng, kinh tế lẫn
giao thương. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là vùng biển này xác định vị thế trung
tâm chi phối của Trung Quốc với thế giới về khả năng ảnh hưởng. Nếu cần nói rõ
hơn thì sẽ là: Trung Quốc coi Biển Đông của Việt Namlà khu vựcExit của
họ, có giá trị bảo hiểm cho những rủi ro dân tộc Trung Hoa về lâu dài. Vì vậy
có thể thấy đây là vùng biển yết hầu, có ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu bá chủ
thế giới của Trung Quốc. Khắc nghiệt nhất với họ là vùng biển ấy lại của người
khác, mang sứ mệnh đảm bảo giao thương hàng hải cho cả thế giới. Đây có thể là
ý Trời, không muốn quả địa cầu này đến lúc nào đó chỉ còn duy nhất giống người
mang dòng máu Hán. Không dân tộc nào có lỗi với Trung Quốc trong vấn đề này.
Những gì họ đang làm là hành động cưỡng lại định mệnh xuất phát từ tham vọng
mang tinh thần Đại Hán. Hãy giả định Trung Quốc làm chủ phần biển nằm trong
đường chữ U do họ tự vẽ. Khi đó toàn bộ nguồn tài nguyên dưới đáy biển, được dự
đoán là cực kỳ lớn, thuộc về họ, là thứ của dự trữ tự nhiên, khổng lồ gấp trăm
lần vài ngàn tỷ USD dự trữ hiện nay của họ. Toàn bộ nguồn hải sản, đủ nuôi sống
hàng trăm triệu người, cũng thuộc về họ. Hình dung tiếp: ngày nào đó thế giới
cạn dầu, trong khi Trung Quốc vẫn rủng rỉnh, họ sẽ có quyền đưa ra những quyết
định khiến thế giới phải phục tùng. Khi có thể đưa ra bất cứ quyết định nào về
Biển Đông, Trung Quốc cũng dễ dàng hơn trong việc bắt chẹt Nhật Bản, Hàn Quốc,
đặc biệt là chiến lược thu hồi Đài Loan, hoặc chính Đài Loan, trong thế kẹt
không còn sự lựa chọn, phải tự nguyện trở về với Đại Lục.
Lý do thứ tư mang tính võ đoán nhưng
rất có thể lại là mục tiêu chủ chốt của Trung Quốc: Muốn thực hiện giấc mơ cai
quản toàn bộ khu vực Đông Nam Á, chi phối châu Á, tiến tới thống trị ít nhất là
một nửa bán cầu. Chính Mao Trạch Đông đã chả từng muốn làm chủ tịch 500 triệu
bần nông Đông Nam Á đó sao? Chính ông ta chả muốn đưa người Trung Quốc xuống
sinh sống ở Lào,Thái Lan ,Myanmar … đó sao? Liệu đây là sự buột
miệng của một hoàng đế tự coi mình ngang với trời, hay là mật chỉ cho các thế
hệ con cháu? Chúng ta sẽ phải tìm lý do xác đáng cho nhận định này sau một vài
sự kiện ở Indonesia ,
Campuchia hay gần đây là Myanmar …
Nhưng nếu chỉ dừng ở những lý do trên, cũng dễ dàng nhận ra, Trung Quốc sẽ
không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để có được điều họ vẫn thèm khát hàng trăm năm
qua: Độc chiếm Biển Đông và trở thành đại cường số một thế giới!
Để thực hiện mục tiêu đó, nghe nói
Trung Quốc đưa ra đường lối chiến lược 100 năm, lấy mốc là năm 2049, năm kỷ
niệm chẵn một thế kỷ thành lập nước Trung Hoa hiện đại! Những năm đầu, do sai
lầm trong đường lối kinh tế, do ảo tưởng về sức mạnh Trung Hoa và chủ yếu do
mải mê củng cố quyền lực, đấu đá tiêu diệt lẫn nhau, các nhà lãnh đạo Trung
Quốc đã khiến đất nước của họ tiều tuỵ, to xác nhưng rỗng ruột, không khiến ai
vị nể. Họ đành tạm nuốt xuống mục tiêu đầy tham vọng đã nêu. Và nó được nhớ lại
khi ông Đặng Tiểu Bình lên cầm quyền, mở đầu thời kỳ tư bản hoá nền kinh tế,
biến Trung Quốc thành một nước phát triển nhanh nhất (đồng thời cũng tàn phá
kinh khủng nhất) thế giới trong ba chục năm qua. Cho dù nhiều người thích nói
lấy được khi gán mọi sự tiêu cực cho sự vươn dậy của Trung Quốc, thì sức mạnh
Trung Quốc vẫn không vì thế mà thiếu tính hiện thực. Giờ đây càng ngày Trung
Quốc càng có trong tay nhiều công cụ để thực hiện giấc mơ cường quốc, thậm chí
là cường quốc duy nhất. Nhưng họ vẫn chưa thể đủ sức đưa ra những phán quyết
theo ý mình khi chưa có trong tay thứ quan trọng đang thuộc về người khác ở cửa
ngõ phía Nam .
Họ vẫn phải “giấu mình”. Nếu xét kỹ thì chiến lược “giấu mình chờ thời” của
Trung Quốc là vì mục tiêu lớn nhất thâu tóm Biển Đông. Trung
Quốc có thể gây ảnh hưởng ở châu Phi, có thể chi phối Nam Á… nhưng đó
chỉ là những chi phối mang màu sắc thương mại nhất thời. Tại đó Trung Quốc thực
hiện cuộc “bòn vét”, “tận thu” thuộc địa mà không phải xua quân đội chiếm đóng,
cai quản. Trên thực tế Trung Quốc thực hiện thứ chủ nghĩa thực dân kiểu Hán:
Không chiếm đất mà chỉ cần chiếm của cải, sau đó rũ tay phủi trách nhiệm về vô
vàn hậu quả họ để lại. Sẽ đến lúc những nền chính trị ở những khu vực đó trưởng
thành, họ sẽ xua đuổi Trung Quốc, y như các thuộc địa xua đuổi thực dân châu Âu
đầu và giữa thế kỷ trước. Khi đó người Trung Quốc sẽ thay chân người Mỹ trở
thành mục tiêu khủng bố của những kẻ dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Biển Hoa Đông,
với vài hòn đảo tranh chấp, không quá quan trọng với Trung Quốc về kinh tế cũng
như mở rộng không gian sinh tồn. Vả lại họ biết rằng không thể vượt qua bức
thành trì Nhật Bản có Hoa Kỳ luôn ở phía sau, một cách dễ dàng. Cuối cùng chỉ
có thâu tóm Biển Đông, Trung Quốc mới tạo ra được sự chi phối mang giá trị địa
chính trị, chi phối về an ninh, tạo bàn đạp để Trung Quốc vươn ảnh hưởng ra
toàn cầu. Thiếu cái bàn đạp định mệnh này, giống như Trung Quốc chưa có điểm
dậm chân hữu hiệu cho cú nhảy quyết định xem mình ở tầm cao nào. Điều đó giải
thích vì sao Trung Quốc giành mọi ưu tiên chiến lược lãnh thổ cho Biển Đông. Để
làm điều này, Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn chính trị. Một trong những thủ đoạn
thành công nhất của họ là đã khiến cho những đối thủ tiềm tàng mất cảnh giác.
Đầu tiên họ tìm cách qua mặt Hoa Kỳ bằng cú lừa “trỗi dậy hoà bình”, chờ Hoa Kỳ
sa lầy họ mới lộ diện. Với Việt Nam, đối thủ chính cần tiêu diệt đầu tiên nhưng
lại khó nuốt nhất, họ đánh lừa bằng 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt, lấy lợi ích
đại cục mang tính ý thức hệ làm chính. Chúng ta chưa đủ bằng chứng để kết luận
các lãnh tụ hàng đầu của Việt Nam đều tin vào những lời đường mật của Trung Quốc,
nhưng rõ ràng, chúng ta đã để cho Trung Quốc dắt mũi khá lâu (trong đó có cả
việc khiến người Việt bịt miệng người Việt về chủ quyền lãnh hải) ít ra là cho
đến khi họ vẽ đường lưỡi bò trên Biển Đông. Trong khoảng thời gian 20 năm chơi
trò gian lận ngoại giao, Trung Quốc đã chủ động cầm cái cuộc chơi ấy, kịp cho
họ âm thầm chuẩn bị lực lượng mọi mặt, trong khi Việt Nam và cả Philippines vẫn
bình chân như vại. Hải quân, không quân Việt Nam đã thuộc loại yếu, những lực
lượng này của Philippines còn yếu hơn, tạo cho Trung Quốc thế thượng phong
tuyệt đối trên biển. Chỉ đến khi tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của
Việt Nam , nhòm ngó bãi cạn
Scarborough mà Philippines
tuyên bố chủ quyền, lãnh đạo của hai nước mới không còn có thể nhắm mắt bịt tai
tự dối lòng mình được nữa.
Một câu hỏi cấp thiết đặt ra là: Với
ý đồ chiến lược ấy, liệu Trung Quốc có quyết tâm đánh chiếm Biển Đông bằng một
cuộc hải chiến toàn diện hay không và nó xảy ra khi nào?
Trả lời câu hỏi này trước hết phải
trả lời được những câu hỏi sau:
- Hải quân và không quân của Trung
Quốc nói riêng và tiềm lực của Trung Quốc nói chung thực chất mạnh đến cỡ nào?
- Nếu trận hải chiến toàn diện xảy
ra, liệu nó sẽ kéo quốc gia nào vào cuộc?
- Phản ứng mạnh mẽ nhất của Hoa Kỳ sẽ
ở mức nào?
- Hậu quả của cuộc hải chiến mà Trung
Quốc phải gánh chịu lớn tới mức nào?
Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng
khía cạnh một.
Trung Quốc có nguồn dự trữ ngoại tệ
khổng lồ, có thể nhanh chóng huy động tiềm lực quốc gia nhưng với hơn 1,3 tỉ
dân, trong đó già nửa số đó thuộc diện nghèo đói, áp lực an sinh là vô cùng
lớn. Trung Quốc luôn phải đối diện với sự rối loạn từ bên trong. Thay vì tập
trung cho việc chiến đấu, quân đội Trung Quốc phải thường trực một lực lượng
lớn để đề phòng hội chứng “mùa xuân Ả Rập”.
Hải quân, không quân Trung Quốc tuy
mạnh lên khá nhanh nhưng chưa đủ áp đảo trong một cuộc chiến mà tầm hoạt động
quá xa như ở Biển Đông. Với diện tích mặt nước mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền
rộng hơn 3 triệu km vuông, thì lực lượng hải quân của Trung Quốc hiện tại quá
mỏng, lại chưa từng qua thử thách chiến trường, trong khi đó đối phương sẽ
không bao giờ chịu ngồi yên. Bài học về cuộc chiến biên giới năm 1979 hẳn nhiều
nhà quân sự Trung Quốc chưa quên. Lừa được ViệtNammất cảnh giác để bất ngờ mở
cuộc đánh úp khiến lực lượng “mỏng dính” của ViệtNamnhanh chóng bị chọc thủng.
Nhưng chỉ sau đó vài ngày phía Trung Quốc bắt đầu ngấm đòn từ những chiến binh
Việt ngày thường mặc áo nông dân. Trên bộ còn thế nữa là trên biển, nơi chưa
bao giờ Trung Quốc được coi là có thế mạnh. Đó là chưa kể sau khi đánh chiếm
rồi thì còn phải giữ được nó. Trung Quốc rất biết điểm yếu này. Trung Quốc chưa
có tàu sân bay và về lâu dài thì tàu sân bay của Trung Quốc cũng chưa thể hoạt
động có hiệu quả. Không quân Trung Quốc giương oai thanh thế với thiên hạ là
chính chứ chưa thể với tầm ra toàn bộ Biển Đông, đặc biệt là khả năng khống chế
đối phương có bờ biển dài như ViệtNam. Nếu Việt Nam có kế hoạch phòng thủ tốt
trên các đảo ở quần đảo Trường Sa, có sự hỗ trợ của không quân Việt Nam với tầm
bay ngắn chỉ bằng một nửa của đối phương, thêm vào sự hỗ trợ của tên lửa phòng
thủ bờ biển có độ chính xác cao, tên lửa đặt trên các tàu khu trục, tàu ngầm…
thì mặc dù mỏng manh hơn Trung Quốc nhiều lần, các lực lượng phối hợp đó vẫn là
đối tượng khó vượt qua của Trung Quốc. Vì vậy, ngay cả khi Trung Quốc có thể tự
do hành động (ngụ ý không bị cản trở trực tiếp bởi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ…),
Trung Quốc cũng phải tính toán cực kỳ kỹ lưỡng trước khi khai hoả. Nếu chỉ dựa
vào sức mạnh thuần tuý, Trung Quốc chưa dám phiêu lưu bằng cuộc chiến tổng lực
quá nhiều rủi ro như vậy.
Việc quốc gia nào bị kéo vào cuộc
xung đột trực tiếp, phần lớn phụ thuộc vào tính toán của Trung Quốc. Đây là lợi
thế của nước lớn. Họ sẽ chủ động điều chỉnh phạm vi chiến trường sao cho không
phải phân tán lực lượng và không thách thức công khai Hoa Kỳ. Bằng vào những
thực tế chính trị, địa lý hiện tại, có thể trả lời,ngoài Việt Nam, sẽ không
có nước nào bị lôi kéo đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Những
gì mà Trung Quốc chuẩn bị công phu mấy chục năm qua cho lực lượng hải quân và
không quân là để đối đầu và đè bẹp ViệtNam! Những hành động cố làm cho to
chuyện ở biển Hoa Đông chỉ là đòn nghi binh của Trung Quốc, để ViệtNam mất cảnh
giác. Nhưng Trung Quốc biết rõ những lực lượng nào của thế giới sẽ hậu thuẫn
Việt Nam, những lực lượng mà chỉ khi chiến tranh nổ ra họ mới công khai xuất
hiện, vì lợi ích của họ và còn cả vì sự căm ghét Trung Quốc là thứ tình cảm có
thật vẫn tồn tại trên khắp hành tinh. Điều đó có nguy cơ đẩy Trung Quốc trở thành
kẻ chống lại phần lớn thế giới.
Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất hiểu sâu
sắc và thực tế cái giá đắt mà họ, sau đó đến thế giới phải trả một khi Trung
Quốc chiếm được Biển Đông. Nếu để chuyện đó xảy ra, Hoa Kỳ sẽ mất lợi ích và
mất quyền lãnh đạo thực sự với thế giới, đặc biệt là với khu vực Thái Bình
Dương cực kỳ quan trọng với họ. Ngoài ra Hoa Kỳ còn có nghĩa vụ với đồng minh
là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Úc, Singapore… những quốc gia có lợi
ích kinh tế và an ninh gắn chặt với Biển Đông. Vì những lý do chiến lược ấy,
Hoa Kỳ sẽ quyết tâm ngăn cản bằng các biện pháp gián tiếp để cuộc chiến không
xảy ra. Hoa Kỳ làm được điều này, ít nhất là trong tương quan hiện tại. Trung
Quốc chưa đủ mạnh và còn rất lâu nữa vẫn chưa đủ mạnh đến mức có thể phớt lờ những
cảnh báo mang tính răn đe của Hoa Kỳ!
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét đến yếu
tố quan trọng nhất quyết định cuộc chiến Biển Đông có xảy ra hay không, đó là
hậu quả của nó mà Trung Quốc phải gánh chịu lớn tới mức nào.
Thế giới này luôn luôn hiện hữu những
mối ràng buộc giữa các quốc gia, các châu lục. Trung Quốc, như đã phân tích,
cho dù có tiềm lực quốc gia lớn, nhưng vẫn là nước mới thoát nghèo về thu nhập.
Trung Quốc luôn luôn có vấn đề nội bộ khiến họ rất khó phình to thêm mà không
sợ bị tan vỡ. Chỉ riêng vấn đề Tây Tạng, Tân Cương… có thể sẽ hút cạn vốn liếng
chính trị và sự tự tin của họ trong thời gian tới đây. Trên thực tế trong mấy
thập kỷ qua Trung Quốc phát triển được là nhờ ở việc chấp nhận có sự phụ thuộc
lẫn nhau. Không mở cửa với Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu… không bao giờ Trung Quốc
có được vị thế kinh tế, quốc phòng như hiện nay. Mối liên quan ràng buộc chặt
chẽ với nhau này khiến mỗi quốc gia không thể tuỳ tiện đưa ra những hành động
đơn phương mà không gây tổn thất cho quốc gia khác và cho chính mình. Nền hoà
bình thế giới và khu vực được duy trì chính bởi những sợi dây quyền lợi này. Vì
thế Trung Quốc sẽ phải lượng xem họ có thể chịu nổi hậu quả của một sự ly khai
của thế giới khi họ phát động chiến tranh hay không. Chẳng hạn một lệnh trừng
phạt kinh tế của Hoa Kỳ và đồng minh nhắm vào Trung Quốc, nếu họ gây chiến với
ViệtNamvàPhilippines. Một sự trừng phạt như vậy là hoàn toàn hiện thực. Và
Trung Quốc như một gã khổng lồ với đôi chân yếu, có thể không chịu nổi điều đó
nhiều hơn thời gian tối thiểu mà một quốc gia yếu kém có thể chịu đựng. Hoặc
chẳng hạn một cuộc tẩy chay Trung Quốc và các lợi ích của Trung Quốc diễn ra
trên toàn cầu? Điều này cũng hoàn toàn có thể thành hiện thực. Trung Quốc khi
đó sẽ đánh mất toàn bộ thứ giá trị Trung Hoa mà họ gây dựng, cổ suý suốt bao
nhiêu năm trước khi có thể trở thành cường quốc thực sự. Đó là chưa kể Trung
Quốc có thể phải đối mặt với những cuộc ly khai mang tinh thần dân tộc chủ
nghĩa của các vùng lãnh thổ tự trị rộng lớn, tạo điều kiện cho Ấn Độ mở rộng ảnh
hưởng. Bởi vì xã hội Trung Quốc chưa bao giờ thống nhất. Nó luôn tiềm ẩn sự
chia rẽ sâu sắc và chỉ chờ cơ hội để nổ ra.
Trên đây chúng ta đã chỉ ra những hạn
chế về thực lực quân sự và những ràng buộc chính trị khiến Trung Quốc phải cân
nhắc khi họ dự định một cuộc hải chiến lớn ở Biển Đông. Dù sao thì những nhận
định đó cũng chỉ là giả thuyết tương đối. Với nền chính trị kiểu Trung Hoa thì
một cuộc phiêu lưu quân sự đôi khi được bắt đầu bằng những lý do rất mơ hồ và
khó lường. Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cũng đã từng nằm ngoài mọi dự đoán
của nhiều nhà phân tích trong và ngoài nước, khi họ quá tin vào logic thông
thường, chỉ dựa trên những hiện tượng bề nổi. Nhưng còn có thứ logic khác, đó
là logic của thứ phi logic mà văn minh Trung Hoa luôn coi đó như một sản phẩm
độc đáo. Có thể đã đủ chứng cứ khẳng định cá nhân ông Đặng Tiểu Bình đưa ra
quyết định xâm lược Việt Nam ,
phần nhiều vì sĩ diện cá nhân và còn vì ông muốn làm một cú test quyền lực cho
bản thân. So với cú test của Mao, thì số sinh mạng ông Đặng đem ra đặt cược nhỏ
hơn rất nhiều. Ngay cả con số lính Trung Quốc bỏ mạng trong một tháng Nam chinh
ấy là 30 ngàn như ước tính của Hoa Kỳ, thì cũng chỉ bằng một phần ngàn số người
mà bậc đàn anh của ông làm thịt vì cuộc thử nghiệm quái gở mang tên Cách mạng
văn hoá. Nền chính trị Trung Hoa luôn ẩn chứa rủi ro không chỉ cho họ mà còn
cho thế giới, vì nó vẫn là một nền chính trị tôn sùng bá đạo, thực chất là một
nền chính trị thủ ác, nền chính trị của bóng tối. Vì thế, nếu chỉ vì những ràng
buộc trên, chưa đủ để khẳng định một cuộc chiến đẫm máu, do Trung Quốc khởi
xướng, không xảy ra trên Biển Đông. Nhưng lý do sau đây có thể là điều khiến
Trung Quốc sẽ còn phải chùn tay: Họ không dám chắc thắng tuyệt đối bằng một trận
tổng lực, trong thời gian ngắn, tức là chưa có trong tay kịch bản kết thúc cuộc
chiến. Mà điều này thì hoàn toàn có thể xảy ra. Lịch sử của
những cuộc nhà Hán chinh phục phươngNam hẳn là điều họ chưa thể quên được. Thêm
một lần thất bại nữa, nước Trung Hoa hiện đại có thể sụp đổ, trước hết là sụp
đổ tinh thần Trung Hoa mà họ đang tìm mọi cách dung dưỡng. Hậu quả nhãn tiền
của nó là sẽ khiến mọi bí mật hư hư thực thực của tiềm lực Trung Hoa – thứ mà
Trung Quốc đang sử dụng hiệu quả trong việc chèn ép thiên hạ – bị lộ mặt, từ đó
bẽ mặt với cả đồng minh lẫn kẻ thù. Lợi thế răn đe của Trung Quốc với các lân
bang khác ngoài Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là Đài Loan… cũng
vì thế mà không còn. Khi đó Trung Quốc mất sạch cả vốn lẫn lãi và có thể lịch
sử Trung Hoa buộc phải viết lại từ nhiều trang trong quá khứ.
Vì vậy, như đã nói, vấn đề lớn nhất
với Trung Quốc không phải là bắt đầu cuộc chiến như thế nào, mà sẽ kết thúc cuộc chiến ra
sao? Các chiến lược gia diều hâu của Trung
Quốc chưa thể nghĩ ra kịch bản nào tốt hơn là sau khi khai hoả, ồ ạt áp đảo đối
phương bằng lực lượng vượt trội, có thể giành một chút chiến thắng nhưng sau đó
sẽ lại phải rút về. Nếu biết trước như vậy mà vẫn lao vào thì chỉ những kẻ mất
trí mới làm. Không kết thúc được, nghĩa là toàn bộ sườn phíaNam có giá trị như
cửa sinh tử của Trung Quốc sẽ ở trong tình trạng chiến tranh, chưa biết đến bao
giờ. Khi đó quyền chủ động cuộc chơi nằm trong tay các nước đối đầu mà nguy
hiểm nhất với họ chính là ViệtNam. ViệtNam là dân tộc có khả năng phòng thủ
kiên cường và nghệ thuật quân sự chứa nhiều ẩn số vào loại nhất thế giới. Khi
buộc phải đánh nhau, khi Biển Đông là chiến trường, khi có sự hỗ trợ ngầm về vũ
khí từ các cường quốc vì lợi ích của họ, thì Việt Nam có thể khiến Trung Quốc
sống dở chết dở, có khả năng bóp nghẹt, cắt đứt con đường giao thương quan
trọng nhất của họ để qua eo biển Malacca. Những gì họ đang làm ở Campuchia là
để phòng xa sự cố này cũng sẽ vô ích. Không ai phải nghi ngờ điều này và cũng
không cần phải có tới 5000 quả tên lửa diệt hạm, con số trên lý thuyết để dìm
toàn bộ lực lượng hải quân của Trung Quốc xuống Biển Đông. Bởi vì đó là bản
năng sinh tồn của người Việt hình thành từ hàng ngàn năm, để không thể bị tiêu
diệt.
Kết lại: Trung Quốc sẽ khai hoả ngay
tức thì ở Biển Đông một khi họ đã có trong tay kịch bản kết thúc chiến tranh.
Chúng ta sẽ phải cho người Trung Quốc thấy, không bao giờ họ thực sự có trong
tay cái bảo bối ấy và do đó, một điều tưởng phi logic khác lại trở thành thứ
logic của định mệnh: Chính người Việt sẽ quyết định có cho phép Trung Quốc làm
mưa làm gió ở Biển Đông hay không. Việt Nam là nước nhỏ hơn nên luôn cần hoà
bình, sống yên ổn bên cạnh Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng cần yên bờ cõi
không kém, đặc biệt là cửa ngõ phía Nam, nơi họ không thể phớt lờ Việt nếu muốn
có sự đảm bảo trên thực tế về an ninh.
PHẦN III: DỰ ĐOÁN HÀNH ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM
Tuy nhiên, việc Trung Quốc nuôi ý đồ
quyết chiếm đoạt Biển Đông là điều không còn gì phải nghi ngờ. Đừng ai ảo tưởng
tin vào thiện chí của Trung Quốc, được quảng bá bằng đủ thứ lời lẽ ngoại giao
hoa mỹ. Vấn đề cần quan tâm là họ có khả năng làm được điều đó hay không và
phương pháp mà họ sẽ tiến hành.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa
ra phỏng đoán, trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ “doạ” là chính, tìm cách gây
áp lực, mua chuộc, ve vãn, chèn ép… để các nước có liên quan đến Biển Đông lâm
vào khó khăn phải tìm cách thoả thuận với Trung Quốc theo những điều kiện Trung
Quốc đặt ra. Cách Trung Quốc làm vẫn sẽ là tạo ra những sự cố ồn ào rồi nhân
đấy áp đặt quan điểm của họ hoặc nếu có thể thì gặm một miếng – như miếng
Gạc-ma năm 1988 và miếng Vành khăn năm 1995, 1998. Khi các quốc gia kịp phản
ứng thì việc đã ở vào chuyện đã rồi. Nói rõ ra thì Trung Quốc sẽ vẫn chỉ áp dụng
biện pháp tằm ăn dâu, gặm từ từ, đánh lấn, quấy nhiễu, chủ động làm phức tạp
hoá tình hình để can dự và gây áp lực. Cách làm này của Trung Quốc có lợi thế
tuyệt đối với họ.
Thứ nhất họ chỉ có thắng mà không
thua, chỉ được mà không mất, vì đối phương vốn ở thế yếu, sẽ phải kiềm chế,
không dễ có hành động tương ứng đáp trả ngay tức khắc.
Thứ hai là họ phân hoá được đối tượng
làm áp lực với họ. Vì lợi ích quốc gia, nhiều nước sẽ dĩ hoà vi quý để hưởng
lợi. Nhiều nhà phân tích phương Tây cho rằng, không ít quyết định của chính
quyền địa phương, của quân đội Trung Quốc liên quan đến Biển Đông là tự ý,
chính quyền trung ương không biết. Nhận định này căn cứ trên lời bao biện của
một số nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc. Nó có thể do quá ngây thơ, hoặc do
thói quen sống trong môi trường thượng tôn luật pháp, mọi thứ đều minh bạch
kiểu dân chủ phương Tây. Thực ra đó là thứ kế sách kiểu Trung Hoa. Họ dùng biện
pháp đó để dò đường. Nếu mọi chuyện êm xuôi, thì coi như là chính sách của nhà
nước. Còn nếu không thuận lợi, thì họ dễ bề chối bỏ trách nhiệm ở tầm quốc gia.
Tương tự như vậy họ đã dùng tờ Hoàn Cầu thời báo để tung ra những
quan điểm mang tính thám hiểm phản ứng của đối phương. Nó dễ dàng biến thành
quan điểm của nhà nước Trung Quốc nếu điều kiện cho phép. Đó cũng là cách mà
Trung Quốc dùng để “bắn tin dữ” với thiên hạ. Một nền chính trị như ở Trung
Quốc hiện nay, nhất cử nhất động đều bị kiểm soát, không cấp dưới nào dám mạo
hiểm làm như vậy nếu như đó không phải cũng là quan điểm của chính quyền trung
ương.
Thứ ba là chỉ dừng lại ở những phi vụ
“vặt vãnh” như vậy, chưa đủ là cái cớ để đối phương hoặc những quốc gia liên
quan coi là chiến tranh.
Cái lợi thứ tư là Trung Quốc cho thấy
họ liên tục đòi hỏi chủ quyền một cách quyết liệt ở những vùng mà nước khác
cũng đòi hỏi. Đây là cách pháp lý hoá những việc bất hợp pháp sau này theo kiểu
Trung Hoa. Bước chuẩn bị mà họ vừa làm là thành lập tỉnh Tam Sa. Chúng ta không
nên coi thường động thái này. Đầu tiên chỉ là cái tỉnh trên giấy, bị ViệtNam ,Philippines …
coi là vô giá trị. Nhưng sau đó, họ sẽ ấn cái tỉnh đó vào đầu hàng tỉ người
Trung Quốc, tạo ra những giao tiếp thương mại, ngoại giao với các nước láng
giềng không bị ảnh hưởng quyền lợi bởi hành động của họ, thông qua Tam Sa.
Chẳng hạn hành động mời thầu thăm dò dầu khí vừa rồi. Hay những phi vụ buôn bán
thương mại với lợi nhuận hấp dẫn, gắn với cái địa danh Tam Sa? Những hội nghị,
triển lãm, thi đấu thể thao nhỏ… do Trung Quốc đăng cai được tổ chức ở Tam Sa!
Dần dần cái tên Tam Sa sẽ thành một địa danh quen thuộc với thế giới. Nó sẽ đi
vào các văn bản giấy tờ mang tính quốc tế. Nó cứ từ từ là một đơn vị hành chính
hiện thực của Trung Quốc. Khi đó những hoạt động trên Biển Đông của chúng ta,
được mặc nhiên coi là hoạt động ở tỉnh Tam Sa của Trung Quốc! Thế giới không bị
buộc phải nhớ Tam Sa thực chất là cái gì, gây tổn hại cho ai, mà họ chỉ cần
biết Tam Sa mang lại cho họ cái gì. Giống như thói quen thế giới gọi biển phía
Nam Trung Quốc là biển Hoa Nam, tết Âm lịch là tết Trung Quốc, đến lúc nào đó,
họ chỉ còn biết Tam Sa là một tỉnh của Trung Quốc! Về phần mình, Trung Quốc sẽ
dựa vào đó để coi hành động tuyên chiến của họ là quyền tự vệ, cụ thể ở đây là
bảo vệ Tam Sa!
Đây là một mưu đồ rất thâm hiểm và
nguy hiểm cho ViệtNam.
Chúng ta đang ở vào thế khó khi phải
đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến vấn đề chủ quyền đối với Trung
Quốc. Đó là thực tế hiện nay đặt ra trước cả dân tộc chứ không chỉ đối với Đảng
Cộng sản. Những người cộng sản đương nhiên là rất bí bởi họ tự nguyện quàng thêm
vào cổ cái ách ý thức hệ để tự trói tay mình. Trong khi ý thức hệ là cái bẫy
chiến thuật của người Trung Quốc, thì với nhiều lãnh đạo cộng sản ViệtNamnó lại
được coi là giải pháp mang tính chiến lược.
Kết luận rằng những người cộng sản
Việt Nam không làm gì, hoặc không quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải là nói
lấy được, cốt cho bõ tức hơn là đưa ra một nhận định nghiêm túc. Chỉ có thể
nghi ngờ hiệu quả của biện pháp mà họ đang áp dụng. Trong thời gian qua, biện
pháp ấy của họ là phỏng theo sự khôn ngoan kiểu con sóc: Dùng tài leo dây để
thoát hiểm. Đó là một mưu mẹo không hề thiếu sự khôn ngoan. Nhưng chiến thuật
này sẽ chỉ có tác dụng nhất thời, trong điều kiện hiện tại của Trung Quốc. Khi
họ đã là cường quốc thì mọi xảo thuật lập tức bị vô hiệu hoá. Nói thẳng ra thì
giải quyết tranh chấp với Trung Quốc vào thời điểm này, mặc dù cực kỳ khó khăn
nhưng vẫn thuận lợi hơn phải làm điều đó với họ sau vài chục năm nữa. Vì vậy
không cẩn thận chính người Việt đang tạo thuận lợi cho việc câu giờ của Trung
Quốc. Chúng ta cứ hay quên rằng chính Trung Quốc mới là phía cần sự yên tĩnh
xung quanh hơn chúng ta để thực hiện chiến lược trỗi dậy và ổn định nội tình.
Chúng ta, do quá tự ti về tầm vóc, mà không dám tận dụng vị trí lợi hại của
mình để chủ động áp đặt điều kiện ngược lại với Trung Quốc. Nói khác đi trong
tay người Việt không thiếu “con bài” mà Trung Quốc phải dè chừng. Nếu không
tỉnh táo, tự bịt mắt nhau, tự làm nhụt chí nhau, người ViệtNamsẽ mắc vào chính
cái lưới do mình giăng ra với mục đích kìm chân đối phương. Cái lưới đó là viện
vào ý thức hệ; cái lưới đó là không làm cho tình hình Biển Đông phức tạp thêm;
cái lưới đó còn là tự bưng bít thông tin vì sợ làm xấu mối quan hệ hai đảng anh
em, sau đó là làm suy yếu tư tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Quan điểm của chúng tôi là mọi biện
pháp bảo vệ được chủ quyền, lợi ích đất nước, bảo vệ được công dân ViệtNam(đặc
biệt là những ngư dân) đều tốt nếu nó thực sự cho thấy sự khôn ngoan và hữu
hiệu. Hãy thử thật bình tĩnh, khách quan và lý trí phân tích xem chúng ta có
thể dựa vào đâu để đạt mục tiêu đó.
Dựa vào ý thức hệ
Có vẻ như thực tế của những cuộc đối
đầu giữa Việt Nam với Trung Quốc và giữa Philippines với Trung Quốc có sự khác
biệt bởi có yếu tố ý thức hệ: Trung Quốc đối đầu với Philippines là đối đầu với
một địch thủ, còn với Việt Nam là cuộc tranh giành của thừa kế giữa hai anh em?
Vì thế, cho dù ViệtNammới là vật cản chính trên con đườngNamtiến của Trung
Quốc, thì những tranh chấp lại có vẻ đỡ khốc liệt hơn?
Nếu chỉ nhìn vào những biểu hiện thì
quả là có thấy dấu hiệu này.
Nhưng đây là chỗ bất lợi nhất do
chính ViệtNamtạo ra cho mình trong việc đề ra sách lược bảo vệ đất nước. Trung
Quốc đã thổi phồng lợi ích của mối tương đồng hình thức về thể chế để lừa lại
những nhà lãnh đạo của ViệtNam. Về lý thuyết thì khi chủ nghĩa cộng sản toàn
thắng, mọi biên giới quốc gia, mọi nhà nước cũng sẽ biến mất. Không lý gì hai
quốc gia đang nỗ lực hết mình cho mục tiêu ấy của nhân loại lại không hiểu
tương lai nào mới là quan trọng với họ. Một số nhà lãnh đạo ViệtNamdo cả tin và
do tình cảm ý thức hệ chi phối, đã nhất nhất phụng sự mục tiêu đó bằng cách đẩy
lợi ích dân tộc xuống hàng thứ yếu. Điều đó phản ánh sinh động và cô đọng nhất
trong câu nói nổi tiếng của một trong những lãnh tụ cộng sản hàng đầu ViệtNam:
“Trung Quốc có thể xấu, tham lam nhưng họ bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Chính nhà
lãnh đạo này đã cấm tiệt báo chí trong suốt hàng chục năm, từ 1991 – sau Hội
nghị Thành Đô – không được nhắc đến địa danh Hoàng Sa vì sợ điều đó làm phật
lòng Trung Quốc, có thể khiến hỏng đại cục (lời thổ lộ của một cựu lãnh đạo báo
Nhân Dân trong buổi nói chuyện tại Trường viết văn Nguyễn Du năm 1994 với mục
đích ca ngợi “tầm nhìn” của nhà lãnh đạo kia). Đại cục ở đây là phong trào cộng
sản quốc tế do Trung Quốc đi đầu. Một số còn lại thì thấy bám vào chỗ dựa ý
thức hệ là cách tốt nhất để đẩy quả bóng chủ quyền cho thế hệ tương lai. Đối
với những người này thì quyền lực của họ – núp dưới quyền lực đảng – cao hơn,
quan trọng hơn quyền lợi dân tộc.
Không có gì phải bàn nếu Trung Quốc
cũng nghĩ và hành động như vậy. Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Trung Quốc tung
ra chiêu hoả mù ý thức hệ như một chiến thuật vô hiệu hoá ViệtNamít tốn kém
nhất. Trong khi trói Việt Nam vào sợi dây vô hình đó khiến cho Việt Nam không
dám tự ý hành động vì lợi ích quốc gia trong vấn đề Biển Đông và hàng loạt vấn
đề khác, thì họ tranh thủ từng phút để lập hồ sơ giả về Biển Đông, nuôi dưỡng
tinh thần dân tộc Đại Hán cho mục tiêu chiếm Biển Đông khi có điều kiện. Những
thoả thuận mập mờ “giữa lãnh đạo hai nước” là đòn hiểm mà Trung Quốc đạt được
quá dễ dàng trước các nhà lãnh đạo ViệtNam. Những thoả thuận không minh bạch
nội dung như vậy có tác dụng chia rẽ nội bộ dân tộc, chia rẽ và gây nghi ngờ
giữa các nhà lãnh đạo, giữa người dân với người cầm quyền… cực kỳ hữu hiệu.
Nhưng nguy hiểm hơn, nó khiến cho những người ủng hộ Việt Nam mệt mỏi, chán
ngán, thiếu tin tưởng và cứ thế phân tán dần sự quan tâm. Khi Philippines muốn
biết Việt Nam thoả thuận gì với Trung Quốc, thì Trung Quốc đã coi như đạt mục
đích, có thể ôm bụng mà cười đắc chí.Philippinescó thể không quá quan trọng.
Nhưng Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, thậm chí cả Nga cũng cùng có câu hỏi ấy, nghĩa
là chúng ta sắp bị bỏ rơi cho con mãnh thú.
Vậy là có thể kết luận: Lá chắn ý
thức hệ chỉ tạo ra ảo giác về lợi ích trước mắt, ngắn hạn, có lợi cho Trung
Quốc nhiều hơn. Nhưng cái lá chắn giống như những sợi chỉ căng ngang ấy, một
mặt không thể giúp ngăn được chút tham vọng nào của người Hán, mặt khác trên
thực tế nó đang trói tay chúng ta trong những hành động vì lợi ích lâu dài của
dân tộc và cách ly Việt Nam khỏi thế giới, điều có lẽ Trung Quốc không mong gì
hơn.
Dựa vào khối ASEAN
Một trong những thành tựu ngoại giao
lớn nhất mà những người cộng sản ViệtNamđạt được trong vòng 20 năm qua chính là
đã đưa nước ta gia nhập khối ASEAN (chỉ cần nhớ lại thái độ bực tức, bất lực
của Trung Quốc khi ấy cũng thấy). Có thể nói đó là dấu mốc của một sự chuyển
hướng quan trọng trong tư duy chính trị ViệtNam. Là thành viên của khối ASEAN,
ViệtNamđã mở được cửa chính thông ra với thế giới để từ đó đi những bước tiếp
theo với vị thế của một nước lớn (hay ít ra cũng là nước quan trọng) trong tiểu
khu vực. Không ở đâu chúng ta có được sự đánh giá này. Không ở đâu chúng ta có
tiếng nói mà người khác buộc phải chăm chú lắng nghe, như trong Hiệp hội ASEAN.
Cũng từ vị thế thành viên Hiệp hội, từ đây chúng ta có thêm nhiều thuận lợi
trong việc thoát khỏi cái bóng khổng lồ Trung Quốc, đặt Trung Quốc vào thế phải
tính toán thận trọng hơn khi đưa ra những đòi hỏi lợi ích liên quan đến toàn
khu vực. Điều quan trọng hơn, chúng ta có thêm kênh để quan hệ với Hoa Kỳ và
những nước quan trọng khác thường nhìn vào thái độ của Hoa Kỳ để đưa ra quyết
định. Thế giới này đã, đang và sẽ còn sự phụ thuộc như vậy. Bỏ qua thực tế ấy
là thiếu khôn ngoan, thiển cận về chính trị.
Nhưng trong vấn đề chủ quyền biển,
đảo ở Biển Đông, ASEAN chỉ có tác dụng như một tiếng nói, có thể là tiếng nói
quan trọng, về mặt dư luận và thể hiện thái độ. Trung Quốc không thể phớt lờ
tiếng nói này, bởi quyền lợi của họ với cả khối là khá lớn. Vả lại, phía sau một mình Việt Nam là những lực lượng khác
xa vớiphía
sau ASEAN trong đó có Việt Nam .
Trung Quốc biết rõ điều này, rằng luôn có một Hoa Kỳ lởn vởn lúc xa, lúc gần,
là đối tác của cả khối, có quyền lợi quốc gia về thương mại, chính trị, ngoại
giao, nơi họ có khá nhiều đồng minh truyền thống, trong đó quan trọng bậc nhất
là Indonesia và nếu thời cuộc thuận lợi, Việt Nam sẽ là danh sách tiếp theo.
Ngoài ra là Nhật Bản, Ấn Độ, Liên hiệp châu Âu và từ những sức ép lợi ích khiến
cả Nga cũng nhập cuộc, trở thành những đối tác có sự can dự thường xuyên, biến
ASEAN thành trung tâm quốc tế về an ninh, hàng hải, trao đổi các ý tưởng. Sự
can dự này vô tình khiến Trung Quốc phải ở vào thế bị lép vế. Chúng ta cần phải
triệt để khai thác vị thế thành viên của ASEAN, nơi những tranh chấp đơn phương
nào cũng có nguy cơ thành tranh chấp đa phương – điều mà Trung Quốc ngán nhất.
Không phải họ ngán lực lượng yếu ớt và không bao giờ thống nhất của ASEAN, mà
họ biết rằng, Hoa Kỳ sẽ không bao giờ bỏ mất cơ hội để can dự vào nội tình khu
vực, mà thực chất của can dự đó là tìm bằng chứng ngăn cản Trung Quốc. Họ biết
rõ, bất kỳ thỏa thuận nào giữa ASEAN và Trung Quốc cũng có bàn tay của Hoa Kỳ,
khác rất xa những thoả thuận chỉ có ViệtNam và Trung Quốc.
Kết luận lại, chúng ta không thể dựa
vào ASEAN như một lực lượng có thể răn đe hoặc để giành chiến thắng khi phải
đối đầu quân sự trực tiếp với Trung Quốc về vấn đề chủ quyền. Nhưng ASEAN là
một tiếng nói có sức mạnh chính trị, nơi có khả năng khiến Trung Quốc không thể
tự ý đưa ra quyết định độc đoán. Vì vậy, với Hiệp hội ASEAN, Việt Nam cần gắn
kết chặt hơn nữa, thúc đẩy quá trình ràng buộc các bên nhiều hơn nữa, chứng tỏ
sự chân thành hơn nữa, thậm chí phải hy sinh chút ít lợi ích nhỏ để kéo cả khối
can dự sâu hơn nữa vào Biển Đông bằng nhiều cách thức, đặc biệt nhấn mạnh vấn
đề an ninh và tự do hàng hải. Biển Đông là vấn đề của cả Hiệp hội ASEAN, tức là
của quốc tế – Việt Nam cần nhất quán lập trường này, ở bất cứ diễn đàn nào, bất
cứ cuộc đối thoại nào, vô hiệu hoá mọi mưu đồ xé nhỏ ASEAN của Trung Quốc như
họ đang làm và có vẻ thành công bước đầu trong trường hợp với chính phủ
Campuchia.
Dựa vào các bạn bè truyền
thống
Trong số này hiển nhiên quan trọng
nhất là Liên bang Nga. ViệtNamcần phải duy trì mối quan hệ với người bạn quan
trọng này, bất chấp mọi thời tiết chính trị của nước Nga cũng như của thế giới.
Cho đến nay Nga vẫn là đối tác đáng nhờ cậy nhất về mặt quân sự. Nhưng nước Nga
không phải là Liên Xô trước đây có thể dễ dàng đưa ra những quyết định cảm tính
dựa trên tinh thần quốc tế, tức là phải hy sinh một phần lợi ích dân tộc. Nước
Nga ngày nay có đường lối đối ngoại thực dụng, dân tộc lạnh lùng và khó đoán.
Nga là quốc gia duy trì nhiều mối quan hệ phức tạp nhất trên thế giới và nó
luôn được đảm bảo bằng công cụ dễ tráo trở là tiền. Nga không còn ở thế có thể
can dự trực tiếp vào những vấn đề bên ngoài lãnh thổ của họ và các chính khách
của Nga ngày nay sẽ không làm điều đó. Xét về mối quan hệ thương mại cũng như
những lợi ích mà Nga đang có từ Trung Quốc, xét về vị trí địa lý và hàng loạt
mối ràng buộc khác, có thể thấy Trung Quốc quan trọng với Nga gấp nhiều lần
Việt Nam. Hy sinh lợi ích với Trung Quốc là một tính toán thiển cận và nước Nga
giờ đây không cho phép bất cứ nhà lãnh đạo nào của họ tự ý làm điều đó. Vì thế,
có thể thấy Nga không bao giờ mong muốn một Trung Quốc hùng mạnh, có thể nuốt
chửng vùng Viễn Đông của họ trong tương lai, có thể áp chế họ như những gì nước
Mỹ đang làm, nhưng Nga sẽ quyết tâm không bị lôi kéo vào cuộc đụng độ ở Biển
Đông. Tuy vậy, Nga có sĩ diện dân tộc rất lớn, không dễ bỏ mất vị thế cường
quốc của họ. Vả lại Nga cũng cần Việt Nam trong chiến lược trở lại Đông Nam Á.
Đó là lý do Nga sẽ làm hết sức để Trung Quốc không ngang nhiên dàn quân uy hiếp
Việt Nam, đẩy Nga vào thế khó. Trong tay họ có một vài quân bài như: năng
lượng, công nghệ quân sự, lợi ích ngoại giao với vị thế là Uỷ viên thường trực
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tạm thời những quân bài đó còn đủ mạnh để họ có
thể chi phối phần nào những quyết định của Trung Quốc. Nhưng phép màu của những
quân bài đó đang mất dần. Điều chúng ta có thể và cần tranh thủ Nga lúc này là
mua những loại vũ khí hiện đại, có độ chính xác cao, tiếp cận công nghệ của họ
tiến tới có thể sản xuất chúng ngay trên lãnh thổ Việt Nam như Nga đã và đang
làm với Ấn Độ. Tạo mọi điều kiện để Nga can dự trở lại Đông Nam Á, phân tán mối
quan tâm của Trung Quốc.
Khác với Nga, Nhật Bản và Ấn Độ ít
ràng buộc lợi ích chiến lược với Trung Quốc hơn. Đường lối ngoại giao của họ
cũng rõ ràng hơn. Đây là hai cường quốc khu vực cực kỳ quan trọng với ViệtNam.
Nếu xét cả về lợi ích và vị thế cũng như tầm vóc, Ấn Độ dễ chấp nhận dấn thân
hơn. Chúng tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của Ấn Độ với
ViệtNamtrong vấn đề Biển Đông. Lịch sử quan hệ và tranh chấp lãnh thổ khiến nước
lớn này là địch thủ công khai và lâu dài của Trung Quốc. Rất khó để hai nước
tìm được sự hữu hảo thực sự, khi mà Trung Quốc còn công khai khai tuyên bố chủ
quyền với vùng đất chiến lược của Ấn Độ. Ấn Độ không bao giờ chấp nhận sự lãnh
đạo của Trung Quốc ở châu Á. Lòng tự trọng dân tộc, quy mô diện tích, dân số và
vai trò nước lớn trong khu vực không cho Ấn Độ thoả hiệp với tư tưởng hạ mình
ấy. Can dự vào những vấn đề an ninh khu vực được Ấn Độ coi là quyền lợi và sứ
mệnh của họ. Mối quan hệ mật thiết của Trung Quốc với Pakistsan khiến Ấn Độ tìm
thấy thêm lý do phải cân bằng lực lượng ở Biển Đông ngoài lý do bảo vệ lợi ích
và đó là thuận lợi cho chúng ta. Nếu xảy ra đụng độ lớn tại Biển Đông, Ấn Độ sẽ
là những quốc gia đứng về phía Việt Nam mạnh mẽ nhất, có thể công khai cung cấp
vũ khí hiện đại cho Việt Nam, thậm chí sẵn sàng gây áp lực quân sự với Trung
Quốc ở giới hạn nào đó. Ấn Độ ở vào vị thế tương đối độc lập khi đưa ra những
quyết định như vậy. Nhưng Ấn Độ cũng sẽ không để bị lôi kéo vào cuộc chiến.
Trong khi đó Nhật Bản rất khó làm
điều tương tự như Ấn Độ vì luật pháp hoà bình của nước này và vì mối ràng buộc
với Hoa Kỳ. Cũng như Ấn Độ, Nhật Bản có lợi ích sống còn về hàng hải ở Biển
Đông và chung lợi ích chiến lược, chia sẻ những giá trị lịch sử với Việt Nam
trong vấn đề kìm chế Trung Quốc. Mà kìm chế tốt nhất là không để Trung Quốc độc
chiếm Biển Đông. Họ sẽ làm mọi cách có thể cùng với ViệtNamđể thực hiện điều đó
nhưng vai trò chi phối quân sự của Nhật là có giới hạn. Cũng như Úc, châu Âu,
họ chỉ có thể ngầm giúp chúng ta, chỉ có thể đóng vai trò người can ngăn, có
thể gián tiếp tạo ra một sự ủng hộ từ Hoa Kỳ với chúng ta.
Dựa vào Hoa Kỳ
Phải khẳng định là, nếu không có Hoa
kỳ thì Trung Quốc không chỉ nuốt sống Biển Đông, biển Hoa Đông, mà đã tìm cách
thống trị thế giới từ lâu rồi. Đó hoàn toàn không chỉ là một cách nói. Chủ
nghĩa bành trướng Đại Hán, định nghĩa theo một cách dễ hiểu hơn, là không có
giới hạn nào về địa lý thoả mãn được nó. Nếu không bị cả thế giới tìm cách ngăn
chặn, sẽ đến lúc mục tiêu của nó là lãnh thổ Hoa Kỳ, trước khi nó hướng tới mặt
trăng. Trung Quốc hiện tại, cho dù đang thức tỉnh, đang thay đổi thì vẫn cứ là
một thực thể quá nặng nề để có thể mở cuộc đua bứt phá với Hoa Kỳ. Hoa Kỳ chưa
cần làm gì, Trung Quốc đã phải dè chừng. Nhưng vẫn có những biến số trong một
thế giới đang thay đổi chóng mặt. Không ai tiên đoán nổi, chỉ trong vòng vài
chục năm, cuộc đổi vai trò cường quốc giữa Liên Xô (sau đó là Nga) với Trung
Quốc lại đơn giản thế. Đơn giản còn hơn cả việc thực thi một hiệp ước có ký
kết. Chính sự thay đổi đó mà thế giới ngày nay thậm chí còn nguy hiểm hơn với
những nước nhỏ, so với thời chiến tranh lạnh. Nguy hiểm nhất là không thể biết
con sư tử Trung Hoa còn đói mồi đến bao lâu và có ai hy sinh lợi ích để ngăn
chặn nó. Hàng trăm năm qua đã có tới cả ngàn lời khuyên quý giá của các triết
gia, các nhà chính trị lớn, về cách mà thế giới sẽ phải làm để có thể sống với
Trung Quốc. Nhưng chỉ có Hoa Kỳ quan tâm và hiểu những lời khuyên đó. Những cố
gắng to lớn của Hoa Kỳ trong việc đưa Trung Quốc vào khuôn khổ, yêu cầu họ phải
nhận lấy một phần trách nhiệm nước lớn, đã giúp thế giới có được sự yên ổn
tương đối và những phát triển ngoạn mục khi Trung Quốc tư bản hoá nền kinh tế
và nới rộng hơn chiếc cùm chính trị đối với hơn một tỷ người.
Nhưng Hoa Kỳ đang sắp phải trả giá
cho hành động của mình. Trung Quốc đã đánh lừa cả thế giới bằng những thông
điệp đơn giản nhưng dễ lọt tai. Giờ đây họ sắp sửa cười vào ngay chính những
thông điệp đó. Đòi hỏi gần hết chủ quyền Biển Đông bằng cách vẽ trên giấy một
đường ranh giới lãnh hải hình cái lưỡi bò, rồi bắt mọi người phải tôn trọng,
không có chuyện tranh cãi, là hành động mang tính biểu tượng cao xác quyết
quyền lực Trung Hoa, không chỉ nhằm vào lợi ích trực tiếp của Việt Nam và vài
nước Đông Nam Á, mà hướng sự thách thức vào Hoa Kỳ và những nước lớn khác như
Ấn Độ, Nhật Bản, Úc, thậm chí cả Nga. Đây là thông điệp mang tinh thần Trung
Hoa hiện đại: Tự tin đến ngạo mạn gửi tới toàn thế giới. Sắp tới, theo lý luận
Trung Hoa, toàn bộ châu Phi là vùng họ cai quản, toàn bộ châu Á thuộc về sự bảo
hộ của họ. Phía bên kia, nước Mỹ là kẻ thù cuối cùng…
Với Trung Quốc mọi điều đều có thể.
Trước mắt giả thuyết đó còn cần một
điều kiện: Nếu Hoa Kỳ khoanh tay đứng nhìn, làm ngơ hay bất lực.
May thay nước Mỹ đã kịp thức tỉnh khi
nó còn là cường quốc số một. Bằng quyết định quay lại châu Á, ngài Barack Obama
có lẽ là tổng thống thông minh nhất của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ trong vòng 20 năm
trở lại đây. Bởi vì Trung Quốc trước sau cũng trở thành mối đe doạ toàn cầu,
trước hết về mặt văn hoá, sản phẩm chính trị bẩn, sau mới đến hàng hoá giá rẻ
có chứa chất độc và cuối cùng là sức mạnh quân sự. Những gì mà người Trung Quốc
đang reo giắc ở châuPhi,NamÁ… là bằng chứng hiển nhiên nhất. Nó đương nhiên
cũng là mối đe doạ cho riêng nước Mỹ.
Nhưng trên phương diện lợi ích dân
tộc, chúng ta chờ đợi điều gì từ sự quay lại châu Á của Hoa Kỳ? Có thể nói
ngay: Không chỉ Việt Nam mà cả thế giới, dù ghét bỏ Hoa Kỳ đến đâu đi nữa, thì
cũng sẽ không thể thiếu được họ, nếu muốn cuộc sinh tồn này còn có công lý
tương đối. Bất chấp thực tế này là thiếu công bằng và thiển cận. Chỉ có điều,
sẽ còn thiển cận hơn với bất cứ người Việt Namnào coi Hoa Kỳ là chỗ dựa tuyệt
đối tin cậy, phó thác tất cả cho họ. Bởi vì ngay cả khi, giả dụ những người
cộng sản Việt Nam đã được giải phóng khỏi cái ách ý thức hệ, Việt Nam trở thành
nước dân chủ cùng chung hệ giá trị với các nước văn minh, thì ý tưởng trở thành
đồng minh của Hoa Kỳ, được nằm trong cái ô hạt nhân của họ, như nhiều
người đề xuất, chỉ đáng coi là một mong ước, rất thức thời, thể hiện nỗi âu lo
chân thành cho vận mệnh đất nước nhưng không khả thi. Thậm chí trong một thời
gian dài nữa đó vẫn còn là ý tưởng hão huyền. Nhiều người lấy nước Nhật ra làm
bài học cho ViệtNam trong việc trở thành đồng minh của Mỹ. Có vẻ như họ tìm
thấy rất nhiều tương đồng lý thú. Nhưng chưa kể đến sự khác biệt về thể chế, vị
trí địa lý, sự lựa chọn con đường phát triển giữa Nhật Bản và Việt Nam, chưa kể
đến sự khác biệt trong lịch sử bang giao Nhật-Mỹ so với Việt-Mỹ, thì hoàn cảnh
lịch sử thế giới khi Nhật trở thành đồng minh của Mỹ sẽ không tái hiện thêm một
lần nữa với Việt Nam. Thế giới của nửa thế kỷ trước là thế giới của những mối
liên kết quân sự, phụ thuộc chính trị hơn là liên kết kinh tế, vì cuộc đối đầu
ý thức hệ rạch một giới tuyến rõ ràng, bên này lùi thì bên kia tiến. Nó cần sự
gắn kết chặt chẽ về mặt nhà nước giữa các quốc gia cùng hệ ý thức. Nhật Bản và
sau này cả Hàn Quốc, Đài Loan… có giá trị với Mỹ như những căn cứ quân sự tiền
đồn ở châu Á, những trạm trung chuyển hậu cần nếu chiến tranh ý thức hệ xảy ra,
hơn là những đối tác thương mại. Còn giờ đây, sau khi chiến tranh lạnh kết
thúc, sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, nhu cầu hình thành vòng cung bao vây
do Hoa Kỳ cầm đầu không còn cấp thiết nữa. Mối quan hệ Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, Mỹ-Đài
Loan… trở thành di sản cuối cùng của chiến tranh lạnh và thực tế là nó cũng
đang lỏng dần ra vì những liên kết song phương khác do các bên tiến hành. Người
ta từng chứng kiến Hiệp ước Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn nhiều phen gặp sóng gió do vấn đề
lợi ích kinh tế – vấn đề mà trước đây bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Còn với Đài
Loan, số phận của hòn đảo này từng có lúc được Mỹ đặt lên bàn cân với Trung
Quốc đại lục (sau khi Mỹ hi sinh Việt Nam Cộng hoà trong vấn đề Hoàng Sa năm
1974, hy sinh tiếp tính mạng của gần hai triệu người dân Campuchia cũng đều vì
lợi ích với Trung Quốc). Thực tế đó cho thấy hai điều: Thứ nhất, những mối quan
hệ đồng minh toàn diện giữa hai quốc gia không còn hợp thời và thứ hai, chính
Hoa Kỳ cũng có lúc không đáng tin! (Có thể giờ đây họ đang nỗ lực để sửa chữa
sai lầm mang tính đạo đức này?).
Nhưng chúng ta tạm thời chỉ quan tâm
đến vấn đề thứ nhất, là vấn đề khách quan quyết định những mối liên kết. Giờ
đây thế giới đã bước vào thời kỳ của sự phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích và an
ninh. Internet và chủ nghĩa khủng bố quyết định điều này. Internet khiến thế
giới nhỏ lại, không còn ranh giới về địa lý, quốc tịch, ngôn ngữ, văn hoá… Chủ
nghĩa khủng bố, với tư cách là kẻ thù của toàn cầu, đã tạo ra nỗi hoảng sợ
khổng lồ, xuyên quốc gia và một bóng đen hiểm hoạ vô tận. Chưa bao giờ thế giới
phẳng như hiện nay. Nhưng mặt khác, chưa bao giờ thế giới nhiều vách ngăn như
hiện nay. Trong khi Internet chủ trương tạo ra kiểu công dân toàn cầu, tin
tưởng lẫn nhau, phụ thuộc nhau về lợi ích, thì chưa bao giờ con người lại bị
đẩy ra xa nhau, với đầy những nghi kị, những tính toán ích kỷ như hiện nay. Chủ
nghĩa khủng bố tước đi của các cường quốc vị thế nước lớn trong nhiều vấn đề.
Bởi vì không quốc gia nào đủ tự tin để không phải dựa vào quốc gia khác khi
giải quyết nỗi sợ hãi do chủ nghĩa khủng bố tạo ra. Thay vì dựa lưng vào nhau,
dựa vào một nhóm nước, giờ đây mỗi quốc gia là một tập hợp của các mối quan hệ
chằng chéo. Nó tất yếu không thể bền chắc, cố định được mà phải lỏng lẻo, mang
tính chiến thuật để dễ thay đổi. Nói như cách lý luận phương Đông: Trong kẻ thù
có yếu tố bạn bè, đối tác và ngược lại! Vì thế việc hình thành nên những đồng
minh giữa hai quốc gia vấp phải vật cản bất khả vượt qua dựng lên từ chính
những tính toán lợi ích của các quốc gia đó. Những tính toán như vậy của Hoa Kỳ
lớn hơn ViệtNamrất nhiều nếu đem đặt lên bàn cân. Nhưng giả sử cả ViệtNamvà Hoa
Kỳ đều tìm thấy lợi ích sống còn khi là đồng minh quân sự với nhau, thì vấn đề
lớn nhất mà cả hai bên khó lòng vượt qua là niềm tin.
Hãy gạt bỏ khỏi đầu mong ước trở
thành đồng minh toàn diện của Hoa Kỳ để tính đến những liên kết khả thi và thực
tế hơn. Chúng ta cần nắm lấy thời cơ là chưa bao giờ Việt Namquan trọng với Hoa
Kỳ như khi họ quyết định trở lại châu Á. Họ biết rõ chúng ta là ai, có thể làm
gì giúp cho mục tiêu của họ. Cái mục tiêu ấy là không cho Trung Quốc vượt qua
giới hạn đỏ về quyền lực bằng những bành trướng nhanh chóng lực lượng hải quân
do đó phải thôn tính Biển Đông làm bàn đạp. May thay đấy cũng là mục tiêu của
chúng ta, trùng khít với lợi ích của chúng ta ở khía cạnh bảo vệ chủ quyền biển
đảo. Sự
trùng hợp lợi ích này chính là cơ sở bền chắc và đáng tin nhất cho một mối quan
hệ thân cận, phụ thuộc nhau về mục tiêu chiến lược, lợi ích lâu dài giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ.
Thời cơ cho mối quan hệ này đang chín
muồi và Việt Nam, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, sẽ phải chủ động dọn dẹp,
dũng cảm gạt sang một bên những vật cản mà lịch sử quăng lại để tiến về phía
Hoa Kỳ, hơn là đòi hỏi điều ngược lại.
Dựa vào sức mình
Nếu xảy ra đụng độ với Trung Quốc,
Việt Namsẽ phải chiến đấu một mình, đó là điều có thể thấy trước. Vì vậy trong
vấn đề bảo vệ chủ quyền, Việt Namchỉ có một chỗ dựa chắc chắn, đáng tin duy
nhất là sức mạnh toàn dân tộc. Theo hướng đó, chúng tôi thấy hiện tại Việt
Namcó sáu
lợi thế quan trọng và đi kèm với nó là sáu bất lợi cơ
bản sau:
Lợi thế và là điểm mạnh tuyệt
đối của ViệtNam trong tranh chấp
Biển Đông chính là ở vị trí địa lý và tâm lý dân tộc: Có bờ biển dài và không
ai trong số 90 triệu dân sợ và chấp nhận quyền lực Trung Quốc. Dọc hơn 3000 km
con đường hàng hải huyết mạch của Trung Quốc để qua eo biển Malacca, đều có thể
nằm trong tầm khống chế của các lực lượng quân sự ViệtNam. Trong khi đó lượng
vận tải của Trung Quốc rất lớn, chủ yếu phải đi qua khu vực này. Trung Quốc chỉ
có thể an toàn trong hai trường hợp: Hoặc chiếm giữ toàn bộ Biển Đông, đủ sức
kiểm soát nó bằng quân sự và được quốc tế thừa nhận; hoặc chấp nhận hiện trạng
đó là vùng biển quốc tế, thừa nhận chủ quyền của các nước khác. Trường hợp thứ
nhất là điều Trung Quốc mong muốn nhưng không bao giờ thành hiện thực. Vì vậy,
trên thực tế, chỉ ViệtNam mới có thể đảm bảo an toàn hàng hải cho Trung Quốc.
Lợi thế thứ hai là chúng ta ở về phía phòng thủ, có thể bị động về thời
gian xảy ra chiến sự nhưng lại hoàn toàn chủ động trong việc chi phối chiến
cuộc, tránh được tổn thất vì vậy có thể duy trì chiến tranh trong thời gian đủ
dài để lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc mất hết nhuệ khí. Điều Trung
Quốc lo sợ nhất là không thể thắng chớp nhoáng, phải đánh nhau dằng dai thì lại
đúng vào sở trường của phía ViệtNam: Lấy ít đánh lại nhiều và đánh trường kỳ,
không cho kẻ thù kết thúc có lợi.
Lợi thế thứ ba là hầu hết các cường quốc còn lại và Liên hiệp châu Âu đều
công khai hoặc ngấm ngầm đứng về phía ViệtNam vì họ không chấp nhận Trung Quốc
quản lý Biển Đông.
Lợi thế thứ tư chính lại ở cái yếu thế của ViệtNam: Nước nhỏ hơn trong
cuộc đối đầu, là nước bị bắt nạt, là phía chính nghĩa cả về pháp lý và tình
cảm, sẽ nhận được sự ủng hộ của nhân dân các nước. Trung Quốc không thể coi
thường những cuộc biểu tình phản đối với hàng chục triệu người xuống đường trên
khắp thế giới.
Lợi thế thứ năm là chúng ta có kinh nghiệm
chiến tranh, với một quân đội thiện chiến, được khích lệ bởi những chiến thắng
trong lịch sử, có giá trị như một điểm tựa tinh thần chắc chắn.
Lợi thế thứ sáu đó là khả năng chịu đựng tốt của kết cấu xã hội trong tình
trạng thời chiến nhờ đã được tôi luyện. Ngoài ra do chúng ta nhỏ hơn nên khả
năng chuyển đổi để thích nghi nhanh hơn.
Còn đây là sáu bất lợi:
Bất lợi thứ nhất là tiềm lực kinh tế của chúng
ta quá nhỏ bé, ít tích luỹ, hậu quả là tiềm lực quốc phòng, đặc biệt là hải
quân và không quân thua xa đối phương cả về số lượng và công nghệ. Trong khi đó
chúng ta vẫn đang tiếp tục lãng phí những nguồn lực quan trọng nhất của đất
nước khiến hạn chế khả năng huy động tổng lực cho chiến tranh – nếu nó xảy ra. (****)
Bất lợi thứ hai là người dân bị bưng bít thông tin, kém hiểu biết về tình
hình đất nước, tình hình lãnh thổ, lãnh hải, nếu chiến tranh xảy ra dễ ở vào
thế hoang mang, bị động.
Bất lợi thứ ba là mâu thuẫn dân tộc còn khá nặng nề, không phát huy được
tối đa sức mạnh trong và ngoài nước.
Bất lợi thứ tư là hạt nhân tập hợp lực lượng không còn đủ sức hút cần
thiết, hạn chế khả năng lãnh đạo, động viên mọi tầng lớp xã hội trong tình
trạng đất nước nguy cấp.
Bất lợi thứ năm là tiếng nói của ViệtNam ít gây chú ý với cộng đồng quốc
tế do bị Trung Quốc thao túng dư luận, xuyên tạc sự thật quá lâu.
Bất lợi thứ sáu là ViệtNam không có đồng minh quân sự.
Những điểm yếu mà chúng tôi nêu ra
đều có nguyên nhân chủ quan và đều thuộc về nội tình đất nước. Vì vậy vấn đề
hoàn toàn phụ thuộc vào quyết tâm khắc phục của tất cả những con dân Việt. Với
niềm tin rằng, không kẻ thù nào chiến thắng nổi một dân tộc có tới ngót 100
triệu quyết tâm, có nhiều hơn thế lòng tự tôn và có vô số khả năng nằm ngoài
mọi phán đoán của những kẻ ngoại bang, chúng tôi đưa ra kiến nghị khẩn thiết
sau:
Thực hiện triệt để hoà giải dân tộc
thể hiện bằng một đạo luật, trong đó nghiêm cấm tất cả những hành vi phân biệt
đối xử giữa các công dân Việt Nam qua các thời kỳ và các thể chế khác nhau và
hiện sinh sống trên những quốc gia khác nhau, nghiêm cấm trả thù, nghiêm cấm
hành vi tuyên truyền, kích động thù hận, hành vi gợi lại nỗi đau của dân tộc.
Ngày 30-4 hàng năm trở thành ngày Hoà giải và tha thứ.
Làm được điều đó, chúng ta có thứ vũ
khí mà kẻ xâm lược nào cũng không còn đáng sợ.
Kết luận:
Vấn đề làm thế nào để có thể tiếp tục
sống yên ổn, nguyên vẹn bờ cõi bên cạnh Trung Quốc là chuyện của thời khắc này,
nhưng cũng là chuyện của lâu dài, của muôn đời con cháu. Không thể đưa đẩy trốn
tránh trách nhiệm nhưng cũng không được nóng vội, hấp tấp, thiếu chín chắn bởi
dù thích hay không, người Việt không thể lựa chọn một láng giềng khác ở phía
Bắc. Bất cứ sai lầm nào cũng đều không có cơ hội sửa chữa hoặc phải trả giá đắt
kéo dài suốt nhiều đời. Đó là điều khác biệt cơ bản so với tất cả những vấn đề
quốc gia đại sự còn lại. Nó luôn ở thì chưa hoàn thành, không có kết thúc. Những
gì cha ông để lại cho chúng ta là một cương vực rõ ràng, một nền hoà bình tương
đối và một kho báu kinh nghiệm để trường tồn. Chúng ta không thể để lại cho
tương lai một di sản kém hơn.
Để làm được điều đó, nhiệm vụ quan
trọng nhất là đất nước phải hùng mạnh và trở thành một thành tố trong chuỗi giá
trị toàn cầu, càng nhanh càng tốt. Vấn đề còn lại chỉ là người Việt sẽ đi đến
mục tiêu đó bằng cách nào. Từ cuộc vươn dậy nhọc nhằn, đau thương của dân tộc
và thực tế thế giới suốt một thế kỷ qua, đã đủ bằng chứng để rút ra kết luận:
không có lựa chọn nào khác tốt hơn con đường xây dựng một
xã hội dân chủ thực sự. Đó có thể là con đường chông gai nhất, đau đớn nhất,
nhiều phân vân nhất của người Việt trong thế kỷ này. Nhưng chỉ riêng việc phải
lựa chọn giữa sống hay là chết dưới tay Trung Quốc, chúng ta đã không còn thời
gian để cân nhắc.
Hà Nội tháng 5 -2012 đến tháng
12-2012
(Rút từ cuốn Nghĩ mãi không ra)
T. D. A.
–
(*) Tôi muốn nhắc đến trường hợp bài
trả lời phỏng vấn của ông Lê Vĩnh Trương trên báo Pháp luật TPHCM ngày
4/11/2012 (và trước đó nữa là bài của giáo sư Ngô Bảo Châu). Ông Trương – trong
khuôn khổ của một tờ báo chính thống – đưa ra được một số thông điệp như vậy là
rất cố gắng, thực tế là chưa có tiền lệ trong thời gian từ sau năm 1991. Ông không
đáng bị “ném đá” như những gì đã xảy ra, nếu mỗi người tỉnh táo, suy ngẫm thấu
đáo hơn. Tôi đồng ý với đánh giá khá bình tĩnh của ông Dương Danh Huy. Những
người ném đá ông Trương quên mất một thực tế là, do bị nhồi sọ quá lâu, hàng
triệu người –những người cần biết thực tế của mối quan hệ Việt-Trung cũng như
những việc hệ trọng khác của đất nước – vẫn chưa có thói quen tin vào những
trang mạng tự do. Những thông tin trên đó bị “hàng rào chính trị” trong đầu họ
gói tuốt vào một rổ với những thứ chống phá đất nước. Chúng ta có thể trách họ
nhưng đó đang là thực tế. Theo tôi, những người bình thường có thể xả ra mọi
bức xúc, hay vẫn gọi là “ném đá”, còn thứ mà giới trí thức “ném ra” chỉ nên là
những quan điểm, ý tưởng có giá trị phản biện.
(**) Năm 2002 tôi có chuyến sang Hoa Kỳ và khi đến vùng có
nhiều người Việt sinh sống thì tôi được người dẫn đường nói nhỏ vào tai: Đừng
nói gì nhé, kẻo bị hành hung đấy. Hành hung thì chưa, nhưng tôi bị một cháu
sinh viên Việt lừ mắt hỏi “Sang đây làm chi?” đáp lại vẻ mặt hớn hở và lời hỏi
thăm đầy tình đồng bào của tôi sau một tháng xa nhà. Sau đó tôi được biết nhà
văn N. K. từng bị chính đồng bào mình nện mũ cối vào đầu, nhà văn L. M. K. và
H. A. T. thì phải nhờ đến cảnh sát Hoa Kỳ làm hàng rào mới thoát khỏi cuộc vây hãm
của hàng trăm người Việt, nhà văn N. H. T. bị bao vây khi ông đến nói chuyện
tại một trường đại học… Lý do chỉ là những nhà văn đầy tinh thần dân chủ này
(tất nhiên không ai thèm biết điều đó!) từng và đang làm việc cho nhà nước Cộng
sản. Khi về nước tôi cứ đau buồn mãi về chuyện này và tự hỏi: Bao giờ thì quan
hệ của những “đồng bào Việt” mới không gắn với chính trị và bao giờ thì họ mới
tha thứ cho nhau?.
(***) Ở tầm vĩ mô, ngoài những gì ghi trong sách trắng của Bộ
Ngoại giao Việt Nam năm 1979, có thể kể thêm vụ ngăn cản Việt Nam bình thường
hóa với Hoa Kỳ, gia nhập WTO, ép các nhà thầu dầu khí nước ngoài không hợp tác
với Việt Nam… Còn ở những tiểu xảo thì muôn hình vạn trạng. Những chuyện như
thu mua rễ cây hồi, đuôi trâu, đỉa, râu ngô có thể là một vài ví dụ. Năm 1995,
một anh bạn thạo tin rỉ tai tôi là Trung Quốc bỏ ra khoảng 27 tỉ nhân dân tệ
(hơn 4 tỉ USD) để trợ giá cho những mặt hàng như điện máy, điện tử, giày dép,
đồ may mặc của họ… để giết chết những ngành này ở Việt Nam bằng buôn bán tiểu ngạch.
Tôi không có điều kiện kiểm chứng thông tin này. Nhưng năm 1995, khi tôi sang
Bằng Tường rồi vào sâu trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 30 km, tôi tận mắt
chứng kiến những mặt hàng đã kể, cùng chủng loại, cùng nhãn mác… ở nội địa
Trung Quốc bán cao gấp từ 2 đến 3 lần ở Lạng Sơn, Móng Cái… Vì thế những người
dân Trung Quốc ở vùng biên bèn sang ViệtNam để mua hàng Trung Quốc, rẻ chưa
bằng một nửa khi bán tại nước họ, về tiêu dùng.
Năm 1999 tôi có dịp thăm cửa khẩu Sóc
Giang, Cao Bằng, chứng kiến cảnh Trung Quốc xua người dân lấn đất của Việt Nam
bằng các cách sau: Dịch cột mốc tạm thời, cho người cắt cỏ theo đường phân
giới, lấn sâu vào phía Việt Nam rồi cứ thế căn cứ vào màu cỏ để coi là ranh
giới, trồng cây sao cho gốc chéo sang đất Việt Nam nhưng ngọn vẫn ở bên đất
Trung Quốc rồi chờ đêm đến cho người ra dựng thẳng cái cây đó lên, coi như gốc
cây là điểm giáp biên. Hoặc ở cửa khẩu Tà Lùng, có một con suối trở thành một
đoạn đường biên tự nhiên giữa hai nước. Phía Trung Quốc bèn xui ViệtNamcùng họ
đắp đập để lấy nước tưới. Nhưng khi tháo nước thì chỉ có phía ViệtNamthực hiện.
Bờ sông phía Việt Nam lập tức bị nước khoét lõm vào khoảng vài chục mét – do áp
lực nước quá lớn – và phía Trung Quốc lấy ngay cái bờ mới đó để chia lại đường
phân thủy, kết quả là họ được lợi vài ngàn mét vuông. Chính anh em biên phòng
bảo với tôi, phía Trung Quốc định ra mức thưởng 1000 nhân dân tệ (khoảng hơn 2
triệu đồng Việt Nam lúc ấy) cho một héc ta đất rừng lấn chiếm được. Người dân
Trung Quốc ở vùng giáp biên với ViệtNamđa phần rất nghèo, có thể là nghèo nhất
thế giới, nên họ thấy tiền là bất chấp tính mạng để lao vào. Cũng phải chứng
kiến tận nơi mới thấy bộ đội biên phòng của chúng ta cũng như đồng bào ViệtNamở
vùng biên gian khổ nhưng bất khuất và giàu lòng yêu nước như thế nào.
(****) Chúng ta đang lãng phí một cách không
thể chấp nhận được, gồm: 1-Lãng phí của cải và nguồn lực đất nước (chỉ riêng
thiệt hại do một mình tập đoàn Vinashin gây ra tương đương với giá của gần 4000
quả tên lửa diệt hạm tối tân, tương đương với 12 chiếc tàu ngầm lớp Kilo mua
của Nga, tương đương với hàng chục chiếc tàu khu trục hiện đại có khả năng tàng
hình của Ấn Độ. Bất cứ quốc gia biển nào chỉ cần sở hữu một trong những số
lượng vũ khí kể trên cũng được coi là một quốc gia có lực lượng hải quân đáng
gờm); 2-Lãng phí nhân tài; 3-Lãng phí thời gian và cơ
hội; 4-Lãng phí ý tưởng; 5-Lãng phí cảm hứng; 6-Lãng phí lòng yêu nước và
cuối cùng là 7-Lãng
phí sự chân thành và các giá trị đạo đức. Những lãng phí này khiến
nội lực dân tộc bị suy nhựơc kinh niên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét