LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN CÓ TRÁI VỚI HIẾN PHÁP?
Trần
Vũ Hải
Hiện
đã có lịch trình để Quốc hội sửa đổi tương đối nhiều nội
dung của Hiến pháp 1992, được sửa đổi bổ sung năm 2001. Đây là dịp chúng tôi
nghiên cứu về các Hiến pháp của Việt Nam, cũng như việc thực thi chúng.
Chúng tôi nghiên cứu các định chế Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính
phủ theo Hiến pháp hiện hành, và thấy như sau:
Điều 103 Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 có quy định:
“Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
2- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ
Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh;
3- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch
nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao;
4- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;
5- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết
định đại xá;
6- Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh
tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường
hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
7- Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong
thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất
trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
8- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
9- Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng
vũ trang nhân dân, hàm, cấp đại sứ, những hàm, cấp nhà nước trong các lĩnh
vực khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng nhà
nước và danh hiệu vinh dự nhà nước;
10- Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp
nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều
ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người
đứng đầu Nhà nước khác; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế đã trực tiếp
ký; quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần
trình Quốc hội quyết định;
11- Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch
Việt Nam hoặc tước quốc tịch
Việt Nam;
12- Quyết định đặc xá.”
Điều 114 Hiến pháp trên quy định như sau về Thủ tướng Chính
phủ
“Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ,
Uỷ ban nhân dân các cấp; chủ toạ các phiên họp của Chính phủ;
2- Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan
ngang bộ; trình
Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;
3- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ
tương đương; phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
4- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ
thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ
thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên;
5- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn
bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội
bãi bỏ;
6- Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện
thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.”
Như vậy, Hiến pháp1992
quy định quyền tối cao của Chủ tịch nước đối với các lực lượng vũ trang, phân
biệt rõ vai trò của Chủ tịch nước và Thủ tướng trong vấn đề quyết định nhân sự
cao cấp trong hệ thống chính quyền. Chủ tịch nước quyết định bổ nhiệm các
nhân sự cao cấp trong cơ quan tư pháp tối cao như: Viện kiểm sát tối cao, TAND tối cao, quyết định phong
hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực
lượng vũ trang nhân dân và các đại
sứ thuộc ngành ngoại giao. Trong khi Thủ tướng quyết định về các nhân sự cao cấp trong cơ quan hành pháp và hành chính địa phương.
Tuy nhiên, tại Điều
25 khoản 1 Luật Sĩ quan quân đội nhân dân 1999 (được sửa
đổi, bổ sung năm 2008) lại quy định như sau:
“Thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan
1. Thẩm quyền bổ
nhiệm chức vụ, phong, thăng quân hàm đối với sĩ quan được quy định như sau:
a. Chủ tịch
nước bổ nhiệm Tổng Tham mưu trưởng, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; phong, thăng quân
hàm Đại tướng, Thượng tướng, Đô đốc Hải quân’
b. Thủ tướng
Chính phủ bổ nhiệm Chủ nhiệm Tổng cục, Chính ủy Tổng cục; Tư lệnh Quân khu,
Chính ủy Quân khu; Tư lệnh Quân chủng, Chính ủy Quân chủng; Tư lệnh Bộ đội Biên
phòng, Chính ủy Bộ đội Biên phòng và các chức vụ tương đương; phong, thăng quân
hàm Trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân, Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân;
c. Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng bổ nhiệm các chức vụ và phong, thăng các cấp bậc quân hàm còn lại…”
Như vậy có 02 khả năng sau:
(i) Quy định trên của
Luật Sĩ quan quân đội nhân dân trái với quy định tại Điều 103 và Điều
114 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001)
(ii) Các sĩ quan được phong, bổ nhiệm ở mục b khoản 1 Điều 25
Luật Sĩ quan quân đội nhân dân không phải là sĩ quan cấp cao. Tức các Thiếu tướng, Trung tướng không phải là các sĩ quan cấp
cao trong lực lượng vũ trang.
Chúng tôi nghiêng về
quan điểm các sỹ quan cấp bậc như Trung tướng, Thiếu
tướng là các sỹ quan cấp cao và theo Hiến pháp phải do Chủ tịch nước phong cấp,
hàm.
T.V.H
Nguồn Tễu 's blog
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét