Cũng như nhiều người bình thường khác trên đất nước Việt Nam, tôi cũng có những người thân mất đi tính mạng do bom đạn, gửi lại máu xương nơi trận mạc. Nhưng sự hy sinh của họ phải được chúng ta nhân lên thành ý nghĩa của hòa bình, thịnh vượng cho đất nước hôm nay chứ không phải để mặc cho thời gian lấp đầy những hố sâu hận thù. Chúng ta có trách nhiệm chứng minh cho thế giới thấy người Việt nhân ái, vị tha, yêu hòa bình bằng bản lĩnh, sự đổi mới tư duy và nhận thức của mình. Có như vậy ta mới yên tâm rằng con cháu ta sẽ không bao giờ lặp lại quá khứ đau thương mà cha ông chúng phải trải qua.
Tôi thiển nghĩ ta nên định danh ngày 30/4 là "Ngày hội thống nhất", ngày Hội mà anh em ta phải đánh đổi bằng máu xương của nhiều thế hệ. Tôi không ngại việc các đồng nghiệp cho tôi là tự diễn biến vì tôi luôn xác định phải "Nói thật - Làm đúng - Tuân theo lẽ phải - Tôn trọng tự nhiên".
Tuy không hoàn toàn đồng ý với những vấn đề Ly Lam (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần) nêu dưới đây nhưng có thể khẳng định đây là thời điểm thích hợp nhất để hòa giải dân tộc và định nghĩa lại một cách khái quát nhất cho ngày 30/4.
"Tôi
hình dung nước ta trước năm 1975 giống như một ngôi nhà lớn, dột lỗ chỗ khắp
nơi, khiến nhiều người sống trong đó bị dột. Những người trong nhà chia làm hai
nhóm, một bên đòi phá nhà đi để xây cái mới, bên kia cho rằng "không cần,
dột chỗ nào thì che chỗ đó lại là được rồi". Bên đề nghị phá nhà đa phần
là những người thực sự bị dột, nhưng cũng có nhiều người chẳng bị dột mà chỉ
nghĩ rằng nếu làm nhà mới sẽ tốt hơn nhà cũ. Bên kia cũng vậy, nhiều người
không muốn phá vì bản thân không bị dột và có người dù đang ở chỗ dột nhưng suy
nghĩ "che chỗ dột là được rồi, phá nhà ra xây lại chắc gì đã tốt
hơn"- Ông Phan Chánh Dưỡng nói.

Những ngày tháng Tư, dù ít dù
nhiều, trong tâm trí của mỗi người Việt Nam , đặc biệt là những người từng
sống trong thời khắc lịch sử 30/4/1975, đều nhớ về giai đoạn khó quên ấy. Sau
niềm vui thống nhất, non sông về một mối, những người Việt chung dòng máu đỏ da
vàng, sống trong cùng một đất nước đã phải đối mặt với những xung đột, mâu
thuẫn, xuất phát từ sự khác biệt về ý thức hệ và tâm lý cũng như hệ quả của
việc "thắng - thua", không dễ gì hòa hợp. Với những người lòng nặng
trĩu hận thù rời khỏi đất nước trong giai đoạn này để định cư tại nhiều nước
trên thế giới, chủ yếu là Hoa Kỳ, hình thành nên một bộ phận người Việt hải
ngoại, thì làm thế nào để hòa giải sự cách biệt, thù hận lại càng không đơn
giản...
Thực ra, ước muốn hòa giải, hòa hợp
dân tộc của chúng ta từng được đặt ra từ khi đất nước còn chưa thống nhất, ngay
sau hiệp định Paris (1973), với việc ra đời của Hội đồng Hòa giải Hòa hợp dân
tộc gồm ba thành phần để lo tổ chức tổng tuyển cử, tái lập hòa bình. Những năm
sau Đổi mới, nhiều vị lãnh đạo đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này.
Thế nhưng, 35 năm sau ngày đất nước
thống nhất, dù chúng ta đã có những bước tiến dài trong việc hòa hợp, hòa giải
nhờ vào những chính sách, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước, được đặt
ra trong nghị quyết của Đảng từ 1986 đến nay, thì quá khứ dường như vẫn chưa
hoàn toàn được khép lại. Có những khúc mắc nào khiến cho tất cả "con rồng
cháu tiên" vẫn chưa nhìn cùng một hướng để chung tay xây dựng đất nước
Việt Nam hùng cường, là niềm tự hào của mọi con dân Việt, dù ở trong nước hay
nước ngoài?
Mong muốn giải đáp phần nào câu hỏi
này, Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần đã tổ chức một cuộc tọa đàm tại Press Café
vào một chiều tháng Tư, với sự tham dự của bảy khách mời từng là chứng nhân
lịch sử của giai đoạn 30/4/1975 trong những cương vị khác nhau.
Đó là kiến trúc sư Nguyễn Trọng
Huấn, người cao tuổi nhất, anh lính Điện Biên năm xưa, năm 1975 vào Nam với mục
đích tiếp quản. Là ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam TP.HCM, năm 1975 là Phó Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực
lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam . Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm những năm
trước 1975 là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, một trong những lãnh tụ của
phong trào đấu tranh đô thị ở miền Nam.
Ba người - luật sư Nguyễn Ngọc
Bích, chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn và giảng viên Chương trình Fulbright
Phan Chánh Dưỡng trước năm 1975 là những công viên chức, giáo viên của chế độ
cũ. Sau 1975, luật sư Bích đi học tập cải tạo trong 12 năm, còn ông Sơn và ông
Dưỡng sớm làm việc trong chế độ mới. Họ gặp nhau khi cùng sinh hoạt chung trong
nhóm nghiên cứu kinh tế Thứ Sáu.
Người cuối cùng, trẻ nhất, là ông
Trần Sĩ Chương, sang Mỹ du học từ năm 1973, chứng kiến sự kiện 30/4/1975 từ
nước Mỹ. Ông Chương là một chuyên gia kinh tế sống và làm việc nhiều năm ở xứ
người. Từ đầu những năm 1990 đến nay, ông rất tích cực trong việc giúp đất nước
hội nhập kinh tế với bên ngoài, làm cầu nối giao thương cho các doanh nhân Mỹ -
Việt.
Vì sao phải hòa hợp, hòa giải? chuyện "thắng - thua" và đấu tranh giai cấp
Vì sao phải hòa hợp, hòa giải? chuyện "thắng - thua" và đấu tranh giai cấp
Không khí thân tình, vui vẻ và cởi
mở đến ngay từ đầu. Luật sư Nguyễn Ngọc Bích khi được mọi người mời "đi
trước" đã dí dỏm: "Nếu không có dịp ngồi với nhau như thế này, thì
khi ông Bích tình cờ gặp ông Đằng, ông Mẫm ở đâu đó, rất có thể chúng ta chỉ
đứng xa mà nhìn thôi, chứ không thể cùng chia sẻ với nhau những trải nghiệm,
suy nghĩ về một vấn đề lớn của đất nước như hôm nay". Mọi người cười xòa.
Ông Bích lại hóm hỉnh "nếu": "Nếu cuộc nói chuyện này lùi lại ba
mươi lăm năm, chắc chắn anh Đằng, anh Mẫm hay anh Huấn sẽ là người nói, còn
chúng tôi sẽ phải ngồi yên mà nghe. Nay các anh vui vẻ cho tôi nói trước, chứng
tỏ chúng ta đã hiểu nhau, quý nhau, thực sự hòa hợp. Đây là dịp tốt để chúng ta
chia sẻ những suy nghĩ, mong mọi người cũng sẽ đạt được sự hòa hợp như
vậy".
Đi vào vấn đề, ông Bích cho rằng có
một thực tế là có những người Việt ra đi năm 1975 vẫn mơ về một nước Việt Nam
giống như trước, nên chỉ trích nhà nước hiện nay dựa trên điều họ mơ ước đó.
Với những người này, rất khó có một sự hòa giải. Về mặt vật chất họ thật đầy đủ
nhưng chính vì thế mà sự đau khổ về mặt tinh thần của họ chẳng hề nguôi. Và bao
lâu cái sau còn thì nguyên nhân gây ra nó sẽ không bao giờ mất. Với họ, mọi sự
hòa hợp, hòa giải đều vô ý nghĩa. Nhưng lớp người này sẽ ngày càng ít đi. Một
lớp người khác, theo ông Bích, chỉ mong một nước Việt Nam giàu mạnh,
phồn vinh khiến họ có thể hãnh diện. Chúng ta có cơ hội để hòa giải với họ. Rồi
có những người còn tích cực hơn, luôn tìm cơ hội để góp sức mình cho đất nước.
Riêng với thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975, thì tuyệt đại đa số không quan
tâm đến chính trị, nên không cần đặt nặng chuyện hòa giải. Về sự hòa hợp giữa
những người trong nước, ông Bích nói:
- Tôi cho rằng cách xử sự với người
bại trận là thiếu độ lượng. Mãi tới sau Đổi mới, tình trạng này mới giảm dần.
Theo tôi, hòa hợp dân tộc phải do người chiến thắng chủ động tiến hành, trước
hết là hòa hợp với người đã khuất. Thế nhưng chúng ta làm việc này chậm quá.
Mãi gần đây chúng ta mới dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa, nơi chôn cất tử sĩ
Việt Nam
cộng hòa.
Ông Lê Hiếu Đằng lắng nghe rất chăm
chú, rồi tiếp lời: "Như anh Bích nói, nếu như rất nhiều người chiến bại
vẫn mơ về một thể chế như chế độ cũ, thì trong số những người chiến thắng, cũng
có người không đặt lợi ích dân tộc lên trên, do đó chuyện hòa giải, hòa hợp vẫn
chưa đi vào thực chất. Hàng chục năm sau ngày đất nước thống nhất rồi mà đó đây
vẫn còn tình trạng kỳ thị, dò xét đối với những người từng làm việc cho chế độ
cũ". Lặng đi một chút, ông nói:
- Tôi cho rằng câu nói của cố Thủ
tướng Võ Văn Kiệt đã phản ánh một thực tế rất nhân văn, rằng "ngày 30/4
đến, có một triệu người vui, nhưng cũng có một triệu người buồn". Có người
không hài lòng với câu nói này, nhưng phải thừa nhận rằng chính vì có thực tại
khách quan đó mới có chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc chứ? Trong thời chiến
tranh, biết bao gia đình có anh em, cha con ở hai chiến tuyến khác nhau? Phải
đặt lợi ích đất nước lên trên, xem hòa giải, hòa hợp dân tộc là động lực để
đoàn kết mọi người, xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống
nhất, dân chủ và giàu mạnh, như di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nếu như cách đặt vấn đề của luật sư
Nguyễn Ngọc Bích có chút trách móc của "người bên kia", thì kiến trúc
sư Nguyễn Trọng Huấn cũng sâu sắc không kém, khi bắt đầu phản biện. Ông nói:
"Anh Bích cho rằng người chiến thắng thiếu độ lượng vào thời điểm ấy, theo
tôi, là chỉ thấy được tính đấu tranh dân tộc mà không thấy được tính đấu tranh
giai cấp. Chiến thắng năm 1975 chỉ là một nửa chặng đường, hoàn thành mục tiêu
thống nhất đất nước. Mục tiêu sau đó của chúng ta là xóa đi phương thức sản
xuất cũ để xây dựng phương thức sản xuất mới. Muốn xây dựng được, phải có những
con người mới, nên "chúng tôi" (ông Huấn cười hóm hỉnh) không chỉ đưa
anh đi cải tạo, học tập, mà còn tiến hành cải tạo tư sản, hợp tác hóa nông
nghiệp...
Mọi người đều cười thú vị. Ông Huấn
phân tích tiếp:
- Thời điểm ấy, Việt Nam đang ở
trong một vòng xoáy mang tính nhân loại; không khí ấy, quan điểm ấy đã ảnh
hưởng đến suy nghĩ, hành động của chúng ta. Hai cuộc đấu tranh chống Pháp và Mỹ
được tiến hành dưới nhãn quan của đấu tranh giai cấp, chúng ta là một bộ phận
trong cuộc đấu tranh giai cấp trên toàn thế giới. Vì vậy, giải phóng miền Nam thì đâu đã
xong, người chiến thắng còn phải đập tan lực lượng đối kháng, cải tạo nông
nghiệp, cải tạo tư sản,... Kêu gọi sự độ lượng khi ấy có nghĩa là chỉ nhìn cuộc
đấu tranh dưới góc độ "hai phe, hai miền", mà không thấy rằng đó chỉ
là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp.
Ông Huấn làm mặt nghiêm, nhìn ông
Bích: "Nên chúng tôi phải cải tạo các anh", nhưng rồi lập tức tủm tỉm
cười: "Giờ chúng ta ngồi đây, không giai cấp, Bắc Nam gì cả, tôi
xin uống với anh một ly" và đưa ly lên. Diễn tiến ấy đã tạo nên những
tiếng cười vui vẻ.
Bởi vậy, ông Huấn trở lại vấn đề,
nếu nhìn lại, tôi cũng đồng cảm với những gì anh Bích nói, nhưng trong không
gian lịch sử đó, hoàn cảnh đó, theo tôi là khó thể khác được. Nước ta có vị trí
địa chính trị quá đẹp, đặt chân vào thì có thể khống chế cả châu Á, nên bị các
thế lực hùng mạnh giằng xé, tranh chấp. Việc chúng ta phải đối đầu là không
tránh khỏi, chứ không phải tại miền Bắc miền Nam không hòa hợp.
Chuyện
lớn hơn: hòa hợp cả dân tộc cho mục tiêu phát triển đất nước. Sự thiện tâm và
thành ý
Ông Huỳnh Bửu Sơn tỏ ra rất tâm đắc
với những phân tích của ông Huấn. Ông thành thật:
- Phân tích của anh Huấn quá sâu
sắc, lý giải được vì sao chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc của chúng ta lại gặp
khó khăn như thế. Đúng là người chiến thắng không phải không biết chuyện cần
phải bao dung, độ lượng. Biết nhưng không làm được, vì vướng phải vấn đề giai
cấp. Đối với phần còn lại của thế giới, chúng ta rất dễ dàng nói câu "khép
lại quá khứ, hướng tới tương lai", vì chúng ta không phải cải tạo họ,
nhưng với người cùng một nước thì chưa phải như thế.
Dù vậy, theo ông Sơn, với người dân
bình thường trong cộng đồng, có lẽ không ai cần phải nói thêm gì cả, họ đã ngồi
lại với nhau, vui vẻ. Có thể lúc đầu cũng có bất đồng quan điểm, nhưng dần dần
năm tháng đã xóa nhòa đi. Ông nói tiếp: "Chúng ta chỉ nghĩ rằng phải ngồi
lại để đóng góp chút gì cho đất nước. Chúng ta cùng ngồi đây là đã có sự hòa
hợp. Lớp trẻ trong nước cũng như hải ngoại không còn coi nặng chuyện ngăn cách,
thắng thua; sự giao lưu giữa họ với nhau là rất tự nhiên, không còn chia rẽ,
phân biệt. Với góc nhìn ấy, thì sự hòa giải, hòa hợp thắng - thua ngày xưa
không còn là vấn đề nữa. Vấn đề bây giờ là phải cho giới trẻ nói riêng, mọi
người nói chung một mục tiêu chung - sự cường thịnh của đất nước, của cộng đồng
dân tộc - để kết nối họ lại với nhau".
Mọi người cũng đồng tình với quan
điểm này, bởi suy cho cùng, đích đến của việc hòa hợp, hòa giải dân tộc chính
là tạo sự đồng thuận để phát triển đất nước. Thế nhưng, theo ông Lê Hiếu Đằng,
rất nhiều điều chúng ta còn làm chưa tốt, trong đó có khâu nhân sự, tổ chức cán
bộ, mà đó chính là cái gốc của vấn đề hòa hợp. Ông Đằng nhấn mạnh:
- Chúng ta phải đặt quyền lợi đất
nước lên trên, thực hiện quyết liệt nhiều chính sách, đặc biệt là đãi ngộ trí
thức, trọng dụng trí thức ngoài đảng. Nếu không, khó mà huy động được đội ngũ
trí thức, chuyên gia có tấm lòng với đất nước, trong cũng như ngoài nước.
Ông Huỳnh Tấn Mẫm từ đầu buổi đến
giờ có vẻ suy tư và khi được mọi người hỏi, ông cười, tự nhận mình là người có
nhiều trăn trở và trắc trở. Thời trai trẻ, ông một lòng đấu tranh cho lý tưởng,
nhưng không ít điều diễn ra sau đó đã nằm ngoài sự hình dung của ông. Sau khi
chia sẻ sự đồng tình với ông Đằng, ông bổ sung: "Tôi thấy cơ chế chung của
mình còn khắc nghiệt quá, lại tạo điều kiện cho thành phần cơ hội lập phe phái
phát triển. Ở nhiều nơi, phải là con anh Ba, chú Sáu, gốc Củ Chi, Bến Tre...
mới được tin tưởng đưa vào tổ chức tiến cử lên nhanh; phải là lãnh đạo đoàn mới
lên lãnh đạo đảng, chính quyền... Từ những sự tiến thân kiểu như vậy, mới có
những kẻ cơ hội gia nhập đội ngũ của đảng, khiến thành phần không cơ hội trong
đảng phải lùi ra, chán nản, hoặc bỏ đi làm công việc khác. Nếu cơ chế này không
thay đổi, rất khó có được sự hòa hợp hòa giải rộng rãi, bền vững". Ông Mẫm
cho rằng đừng tưởng những việc nhỏ không thể có tác động lớn. Ngay trong một
phường, nhiều đảng viên ngồi họp cho có lệ, rất nhiều điều họ biết - cán bộ nào
tham nhũng, hống hách, quyền hành... nhưng họ không dám đấu tranh. Ông Mẫm nói
tiếp:
- Cái im lặng này thật đáng sợ! Họ
sợ bị trù dập, quy chụp, đấu tranh không được bảo vệ còn bị ảnh hưởng đến lý
lịch của mình và con cháu,... Ngay trong phường của tôi, có người được bầu vào
hội đồng nhân dân mà không biết về pháp lý, hành chính, bởi không hề được học
có hệ thống về hành chánh pháp lý, nhưng vẫn được đưa vào làm công việc đó.
Chính cơ chế siết chặt ấy khiến những trí thức bên ngoài không thể tham gia vào
việc điều hành đất nước.
Với những việc lớn như nhân sự lãnh
đạo như vậy thì ông Trần Sĩ Chương chỉ là người ngoại đạo. Bởi vậy, khi tham
gia vấn đề, ông bắt đầu bằng việc cho rằng nhu cầu và bản chất của hòa hợp, hòa
giải sẽ biến đổi theo thời gian và không gian. Cho nên lý do của vấn đề hòa
hợp, hòa giải như vào năm 1975 là không còn nặng nề như trước nữa. Ông nói:
"Hòa giải là một nhu cầu tất yếu, để các thành phần xã hội có thể xóa đi
khoảng cách, để đến được với nhau, để cùng hợp tác vì lợi ích chung. Nhưng tôi
nhìn nhận vấn đề hòa giải ở một khía cạnh khác. Như các anh đã nói, chúng ta
chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh, và biến cố 1975 là quá lớn với bất cứ đất nước
nào, đặc biệt lại được làm đậm thêm bởi việc có những người phải vượt biển ra
đi. Nhưng đã ba mươi lăm năm rồi, chuyện xưa ngày càng lu mờ. Tôi nghĩ việc hòa
hợp, hòa giải bây giờ không phải là vấn đề ý thức hệ nữa, mà phải có thiện tâm
và thành ý. Vậy mà khi Nhà nước thể hiện được sự thiện tâm thì có lúc lại thiếu
đi thành ý hay được hiểu là không có thành ý, vì lời nói và hành động không đi
đôi với nhau. Đấy chính là vấn đề của chúng ta ngày nay, giữa người Việt với
nhau. Thiếu sự thiện tâm thì khó thể nghĩ tốt về nhau, cùng nhau hướng về một
mục tiêu chung. Không có thành ý sẽ không tạo được lòng tin; không có lòng tin
sẽ tạo ra khoảng cách. Tôi nghĩ vấn đề hòa hợp, hòa giải là một vấn đề chung
của xã hội hiện nay, chứ không hẳn chỉ với những người đã bỏ xứ ra đi".
Để dẫn chứng, ông Chương đưa ra vài
ví dụ về những gì chúng ta chưa làm tốt trong công tác Việt kiều. Khi Chủ tịch
nước qua Mỹ nói chuyện với kiều bào, điều đọng lại trong họ là "Việt kiều
có quyền mua nhà". Thế nhưng, thực tế không dễ như vậy, khi đến nay cả
nước mới chỉ có hơn 100 Việt kiều mua được nhà. Rồi khi đặt vấn đề miễn visa
cho Việt kiều, thì thực ra lại làm cho việc đó trở nên khó khăn hơn. Ông Chương
kết luận:
- Tôi lần đầu tiên vào một văn
phòng Ủy ban người Việt ở nước ngoài, thấy băng-rôn "Người Việt ở nước
ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc", thì thấy rằng chủ
trương này quá hay, nhưng làm sao để lời nói và hành động khớp với nhau thì
chưa có! Nhưng nếu nhìn lại thì vấn đề này đối với Việt kiều cũng không phải là
một hoàn cảnh cá biệt. Biết bao chủ trương tốt, hoàn toàn đúng đắn - từ bảo vệ
môi trường, đến giáo dục, y tế,... ngay trong nước - nhưng kết quả lại chưa
được tốt vì gặp nhiều vấn đề trong việc triển khai. Chủ trương, lời hứa, cam
kết nếu được triển khai đúng đắn, với thành ý, thì sẽ là một tiền đề quan trọng
cho sự hòa hợp, hòa giải, chứ không phải vấn đề ngày 30/4 nữa.
Xây
dựng ngôi nhà chung - đất nước
Dường như trước bất cứ một hiện
tượng, hoàn cảnh xã hội nào, ông Phan Chánh Dưỡng cũng có thể hình tượng hóa
thành một sự việc dễ thấy, dễ hình dung, và lần này cũng vậy. Cuối buổi tọa
đàm, ông mới lên tiếng:
- Tôi hình dung nước ta trước năm
1975 giống như một ngôi nhà lớn, dột lỗ chỗ khắp nơi, khiến nhiều người sống
trong đó bị dột. Những người trong nhà chia làm hai nhóm, một bên đòi phá nhà
đi để xây cái mới, bên kia cho rằng "không cần, dột chỗ nào thì che chỗ đó
lại là được rồi". Bên đề nghị phá nhà đa phần là những người thực sự bị
dột, nhưng cũng có nhiều người chẳng bị dột mà chỉ nghĩ rằng nếu làm nhà mới sẽ
tốt hơn nhà cũ. Bên kia cũng vậy, nhiều người không muốn phá vì bản thân không
bị dột và có người dù đang ở chỗ dột nhưng suy nghĩ "che chỗ dột là được
rồi, phá nhà ra xây lại chắc gì đã tốt hơn".
Ông nói tiếp: "Ở đây, chúng ta
không đề cập nguyên nhân vì sao nhà lại dột. Tôi không đi sâu vào ý thức hệ, và
cho rằng năm 1975 là tận cùng của sự dột và bên đòi phá nhà để xây mới đã chiến
thắng. Thời gian đầu, những ai thuộc bên "không phá nhà" không được
tham gia xây nhà mới. Những người xây nhà bắt đầu tiến hành xây dựng và nghĩ
rằng sẽ xây được một nhà lầu to đẹp. Một thời gian sau, thấy nhà dựng lên không
được như ý mà muốn xây cho đẹp hơn thì không đủ lực, họ nghĩ trong những thành
viên của ngôi nhà trước đây, ắt có nhiều người có khả năng xây được nhà đẹp,
nên mới nói rằng "có ông nào muốn cùng xây ngôi nhà mới này không?".
Vậy là bắt đầu hòa hợp, một cách từ từ. Việc chung tay xây dựng ngôi nhà - đất
nước là động lực tạo nên sự hòa hợp. Động lực vì cái nhà, chứ không còn vì bên
này bên kia gì cả. Từ từ cơm áo gạo tiền khá hơn, cái nhà đã xây xong, không
còn dột nữa, khá hơn cái nhà cũ trước đây rất nhiều".
Ông Huỳnh Bửu Sơn tán thưởng sự ví
von của ông Dưỡng bằng cách góp thêm ý: "Vấn đề hôm nay là liệu những
người đang xây nhà có hòa hợp với mục tiêu chung là xây một ngôi nhà thật đẹp,
thật tốt cho mọi người cùng ở hay không. Và điều quan trọng hơn, người chủ đầu
tư phải sử dụng công nhân giỏi, mời được kiến trúc sư, kỹ sư giỏi, người quản
lý, phụ trách vật tư tận tâm, trung thực... thì mới xây được căn nhà đẹp, bền
vững. Được vậy thì mọi người trong căn nhà đều hưởng lợi".
Và để kết luận, ông Sơn cho rằng
hòa hợp, hòa giải không phải xóa bỏ cái khác biệt, mà là chấp nhận cái khác
biệt. Đó là yếu tố cần thiết để xây dựng được một sự đồng thuận cao trong cộng
đồng dân tộc, trong đó Nhà nước và người dân có sự tín nhiệm với nhau và cùng
hành động vì quyền lợi tối thượng của đất nước và dân tộc.
Câu chuyện hòa hợp, hòa giải dân
tộc nhân ngày 30/4 đã kết thúc trong niềm hy vọng về một sự đồng thuận của dân
tộc, như là kết quả của một sự hòa hợp thật sự. Được như vậy, ngôi nhà chung -
đất nước sẽ ngày càng đàng hoàng, to đẹp hơn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét